Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2010

Giá đường: Quản lý hay thả nổi?



Chưa bao giờ đường được coi trọng như gạo, thực phẩm tươi sống, dầu ăn
Trong bếp ăn mỗi gia đình, trên kệ hàng mỗi siêu thị, hay tại mỗi cửa hàng bán lẻ, đường, hạt tiêu, chè… chưa bao giờ có vị trí quan trọng như gạo, thực phẩm tươi sống, dầu ăn… Nhưng không vì thế, mà đường được yên ổn, cả với người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng.

May mà giá đường chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong việc hình thành nên chỉ số CPI của VN. Trường hợp giá đường chiếm tỷ lệ quan trọng, thì chắc chỉ số CPI của ta năm 2009 đã phải tăng theo cấp số... nhân. Đơn cử, thời điểm tháng 1/2009, giá đường tinh luyện bán buôn dao động trong khoảng 7.500 - 7.700 VND/kg, thì tới tháng 8/2009, giá đường đã tăng gấp đôi, lên khoảng 13.000 - 14.000 VND/kg. Thời gian giáp Tết Canh Dần, giá đường bán giao thậm chí vọt lên gần 17.000 VND/kg. Còn tại thị trường bán lẻ, chỉ trong vòng 1 năm giá đường đã tăng gần gấp đôi (từ 12.000-13.000VND/kg lên 21.000-22.000 VND/kg).

Tương tự những ngành sản xuất khác như thép, gạo, cà phê, điều..., ngành mía đường cũng đã hình thành mô hình hiệp hội ngành nghề của riêng mình. Nhưng không vì có hiệp hội này mà giá đường trong nước nói riêng, các DN sản xuất, kinh doanh đường và người sử dụng trong nước nói chung được yên ổn. Hội nghị toàn thể của hiệp hội mía đường tổ chức gần đây đã phơi bày thực tế phũ phàng. Các DN ngành mía đường đua nhau hạ giá để tự cứu mình, mà không thể “nhìn” tới các DN khác. Cần nói rõ, là theo ước tính của Bộ Công Thương, sản lượng đường cả nước niên vụ 2009-2010 đạt xấp xỉ 1 triệu tấn, thiếu khoảng 300 nghìn tấn so với nhu cầu tiêu dùng của cả nước. Và do vậy, các cơ quan chức năng đã cấp hạn ngạch nhập khẩu 150.000 tấn đường. Hạn ngạch nhập khẩu này khó có thể trở thành yếu tố có tính chất quyết định ép giá đường sản xuất trong nước giảm, ngay cả khi giá đường thế giới giảm. Cũng có nghĩa là giá đường trong nước giảm do những yếu tố nội tại của ngành mía đường.

Yếu tố nội tại ấy, trước tiên nằm ở vấn đề nguyên liệu. Chênh lệch về giá nguyên liệu mía đường khu vực phía Bắc (trên dưới 700.000 VND/tấn) với phía Nam (có thời điểm lên tới trên 1,5 triệu VND/tấn) làm giá đường thành phẩm giữa hai khu vực này chênh lệch lớn. Đó là nguyên nhân khiến các DN phía Nam phải giảm giá đường, thậm chí giảm dưới giá thành sản xuất.

Thứ hai, từ lâu nay vẫn tồn tại nghi vấn, là đường trong nước đang bị “làm giá”. Có thể thị trường đường trong nước đang bị các nhà đầu cơ đẩy giá xuống thấp để tìm cách tích trữ, rồi lại tạo ra khan hiếm nhằm đẩy giá lên. Còn theo khảo sát của cơ quan chức năng, ở đây là Bộ NN-PTNT, thì giá thành sản xuất đường niên vụ 2008 - 2009 vào khoảng 7.500 VND/kg, trong năm 2009 cũng không quá giá 8.500 VND/kg. Nhưng thời điểm đầu năm 2009, các nhà máy đường đã đồng loạt tăng giá bán đường từ 8.500 VND/kg lên mức xấp xỉ 11.000 VND/kg. Còn thời điểm hiện tại, khi giá đường đã giảm sâu, thì giá đường bán lẻ vẫn giảm không đáng kể. Có nghĩa là, các DN thương mại kinh doanh đường đang được xem như “thủ phạm” khiến giá đường không được bình ổn.

Thực ra thì, đổ lỗi cho các DN kinh doanh thương mại là không công bằng. Từ nhiều năm nay, nếu không có các DN này, thì các DN sản xuất khó có “cửa” để tồn tại. Vì đây mới chính là kênh tiêu thụ và đảm bảo sản lượng sản xuất lớn nhất cho các nhà máy đường. Các DN làm thương mại cũng chính là những người phải “đánh bạc” nhiều nhất với giá đường. Khi giá giảm họ là người bị nhà sản xuất yêu cầu phải “ôm” thêm đường, khi giá tăng chưa chắc họ mua được đủ lượng cần. Đặc biệt khi giá thế giới giảm thì số lỗ vì giảm giá đa phần rơi vào họ. Như vậy, bên cạnh việc cần phải có lượng vốn khổng lồ để kinh doanh đường, thì nhà phân phối cần có thêm khoản dự trữ về tài chính để đảm bảo cho những rủi ro về giá đường. Giá đường bán lẻ tại thì trường trong nước chưa giảm là từ nguyên nhân này. Câu chuyện về giá đường trong nước, vì thế, có thể lý giải bằng nguyên nhân thiếu đối trọng cần thiết đối với hệ thống phân phối. Đối trọng ấy được gọi tên là Nhà nước, với các quy định, ưu đãi về vùng nguyên liệu, giá nguyên liệu, và trong nhiều trường hợp là cả quỹ dự trữ về tài chính để bình ổn giá đường.

Vì thực tế thị trường đường trong nước tuy phát triển về năng lực sản xuất, cung ứng, nhưng lại thiếu các nhà phân phối có tầm và cũng chưa có đối trọng với các nhà phân phối ấy. Và do đó, nói chuyện bình ổn giá đường trong nước cũng xa xôi như đường lên... mặt trăng.
* Chỉ tiêu phát triển của ngành đường trong năm 2010 là 1,5 triệu tấn. Trong khi nhu cầu tiêu thụ của VN mỗi năm tăng khoảng 4,5%, nên tổng nhu cầu tiêu thụ đường trong năm 2010 ước vào khoảng 1,51 triệu tấn. Qua đó, dự báo tình trạng cung không đủ cầu có thể tiếp diễn. Nếu tình hình sản xuất và thu mua mía của các nhà máy không được cải thiện, nguồn nguyên liệu mía không đáp ứng đủ cho các nhà máy thì vẫn có sự cạnh tranh khốc liệt ở đầu vào giữa các DN, cũng như khiến các nhà máy không ngừng đẩy giá thu mua mía lên cao.

* Ông Nguyễn Thành Long - TGĐ Casuco đề xuất ba biện pháp nhằm cải thiện tình hình. Đó là: Nhà nước cần quản lý chặt đường nhập lậu; Có khung thuế suất đường nhập khẩu hợp lý và kịp thời, nhất thiết phải cân đối sao cho bảo vệ đường sản xuất trong nước; Quan tâm đến nguồn tín dụng (lâu nay thường bị khống chế tự động auto stop rất máy móc) đối với tài khoản của DN, nông dân vay trồng mía cũng rất khó khăn.

Nghịch lý giá đường



Giá đường thế giới giảm hơn 30%, trong nước chỉ giảm nhỏ giọt. Đường nhập lậu lại tràn về

Gần cả tháng nay, giá đường thế giới liên tục giảm mạnh. Thế nhưng khác với diễn biến chung, giá đường trong nước lại chỉ giảm nhỏ giọt, thậm chí giá bán lẻ trên thị trường vẫn đứng ở mức trên dưới 20.000 đồng/kg, gần bằng mức giá cao nhất thời gian qua.

Đường ngập chợ nhưng giá vẫn cao (ảnh chụp tại khu vực chợ Bình Tây, quận 6 - TPHCM) Ảnh: Hồng Thúy

Hè nhau kìm giá

Đến thời điểm này, giá đường thế giới chỉ còn khoảng 484 USD/tấn. Nếu so với lúc cao điểm cách nay gần 2 tháng giá đường ở mức khoảng 753 USD/tấn thì giá hiện nay đã giảm hơn 30%. Theo tính toán của giới kinh doanh mặt hàng này, nếu tính đầy đủ các khoản chi phí, thuế... thì giá đường chưa tới 9.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá đường bán tại các chợ ở quận 5, quận 6 - TPHCM hiện nay vẫn từ 16.000 đồng - 18.000 đồng/kg, tùy loại. Giá bán tại các siêu thị cũng như nhiều chợ lẻ trên địa bàn TPHCM từ 19.000 đồng- 20.000 đồng/kg...

Giá đường trong nước bị đẩy lên cao là do một số doanh nghiệp đang tìm cách liên kết thao túng thị trường. Thậm chí, có chủ doanh nghiệp còn kêu gọi các nhà máy đường không nên đưa đường ra thị trường khi giá cả xuống như hiện nay để giữ giá.

Giải thích hiện tượng giá đường trong nước đang cách biệt quá lớn so với giá thế giới, các doanh nghiệp (DN) sản xuất đường cho biết khi giá đường thế giới giảm thì từ giữa tháng 3 đến nay, họ cũng đã điều chỉnh giảm dần. Giá bán buôn hiện nay chỉ còn 15.200 đồng/kg, riêng giá bán lẻ còn quá cao là do thị trường quyết định. Một số DN còn cho biết nguồn đường của họ hiện không còn nhiều, chủ yếu đường nằm trong khâu lưu thông, giá cả do giới kinh doanh điều tiết... Ngoài ra, do giá mua mía nguyên liệu cao, nay giá đường rơi xuống thấp đã đẩy họ đến bờ vực lỗ lã.

Ông Nguyễn Thành Long, Tổng Giám đốc Công ty Mía đường Cần Thơ, nói: Giá mía nguyên liệu cuối vụ ở đồng bằng sông Cửu Long đang tăng quá cao, lên 1,3 triệu- 1,4 triệu đồng/tấn do có đến 10 nhà máy tranh giành nhau một vùng mía nguyên liệu. Nay giá đường giảm mạnh kể như lỗ nặng. Trong khi khu vực miền Trung, miền Bắc, giá mía nguyên liệu chỉ có 700.000 đồng- 800.000 đồng/tấn, nếu giá đường có giảm mạnh cũng không ảnh hưởng gì đến nhà sản xuất...

Không thiếu đường

Theo Hiệp hội Mía đường VN, tính đến hết tháng 3, các nhà máy đã sản xuất được 769.100 tấn đường, giảm 15.000 tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, hiện vẫn còn 20/40 nhà máy đường vẫn tiếp tục hoạt động cho đến tháng 5 với sản lượng hơn 174.000 tấn, đủ sức cung cấp cho thị trường từ nay đến mùa vụ mới (khoảng tháng 9).

Tuy nhiên, qua tìm hiểu của chúng tôi, giá đường trong nước cao là do đang có hiện tượng kìm giá. Theo giới buôn bán đường thì giá đường trong nước vừa qua bị đẩy lên cao là do có một số DN đang tìm cách liên kết thao túng thị trường. Tại cuộc họp của Hiệp hội Mía đường VN vừa tổ chức tại TPHCM cuối tháng 3 vừa qua, điều làm nhiều người ngạc nhiên là nhiều DN chỉ tập trung bàn cách làm thế nào để giữ giá đường không cho xuống tiếp.

Còn các vấn đề như phát triển vùng nguyên liệu, phối hợp với nông dân trong việc trồng mía và thu mua mía sao cho cả DN và người trồng mía có lãi thì gần như không bàn đến. Thậm chí chủ tịch HĐQT một công ty mía đường khá lớn còn kêu gọi các nhà máy bạn không nên đưa đường ra thị trường khi giá cả xuống như hiện nay để giữ giá bởi: “Nếu càng đẩy hàng ra nhiều, giá sẽ tuột dốc nhanh hơn, nhất là vào thời điểm nhu cầu tiêu thụ đường thấp như hiện nay...”.

Đường lậu tung hoành

Việc giá đường trong nước vẫn đứng ở mức cao trong khi giá đường thế giới đã giảm rất mạnh đã tạo cơ hội cho đường nhập lậu từ Thái Lan tràn sang. Theo ước tính của Hiệp hội Mía đường VN, hiện có ngày tại khu vực biên giới các tỉnh miền Tây, đường lậu tràn sang với số lượng lên đến cả trăm tấn.

Giới kinh doanh mặt hàng này cho biết giá bán buôn đường lậu Thái Lan hiện chỉ khoảng 13.500 đồng/kg, rẻ hơn đường trong nước trên 1.000 đồng/kg. Đường lậu trước khi xâm nhập vào VN được thương lái thay đổi bao bì thành hàng trong nước hoặc sử dụng lại bao bì nhập khẩu chính thức rồi tìm cách hợp thức hóa để tiêu thụ.

Sức ép từ nhập siêu



GDP quý I/2010 tăng khả quan nhưng vẫn ở mức thấp. Chính phủ đã thấy rõ khó khăn trong duy trì ổn định cân đối vĩ mô và có những biện pháp bình ổn

Tổng cục Thống kê vừa công bố tình hình kinh tế - xã hội quý I/2010. Chính phủ cũng vừa họp thường kỳ tháng 3 từ ngày 30-3 đến 1-4, công bố những số liệu quan trọng. Theo đó, tăng trưởng GDP quý I 5,83% được đánh giá là mức tăng trưởng tốt so với mức 3,14% của quý I/2009.

Lạm phát dễ kéo dài

Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3-2010 được công bố ngày 2-4-2010 viết: “Nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn: Tốc độ tăng GDP quý I/2010 tuy có cao hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh... Kinh tế vĩ mô có một số biểu hiện chưa ổn định và thiếu vững chắc: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý I tăng 4,12% là mức tăng khá cao; thị trường tài chính, thị trường tiền tệ phát triển chưa ổn định; điều hành lãi suất chưa phản ánh đúng quan hệ cung cầu thị trường; mức tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng thấp, chưa phù hợp; xuất khẩu vẫn còn nhiều khó khăn, nhập siêu lớn ảnh hưởng đến cán cân thanh toán tổng thể”.


Sức mua tại thị trường trong nước vài tháng gần đây tăng khá góp phần làm tăng
GDP quý I/2010. Ảnh: TẤN THẠNH

Như vậy, Chính phủ cũng nhận rõ sự gia tăng lạm phát và các bất cân đối vĩ mô, những căn bệnh kinh niên của nền kinh tế, là đáng lo ngại.

Dưới đây chỉ xem xét hai ví dụ nổi cộm là lạm phát và nhập siêu.

CPI tăng nhanh trong 2 tháng đầu năm, mức gia tăng của tháng 3 tuy đã giảm còn 0,75% vẫn là mức cao. Xem xét biến động CPI trong giai đoạn dài hơn sẽ cho chúng ta bức tranh rõ hơn (xem bảng 1, số liệu của Tổng cục Thống kê).

Có thể thấy CPI hằng tháng đã tăng nhanh từ tháng 10-2009 đến nay. Tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế là một nguyên nhân chính của tăng CPI. Mức tăng tín dụng có thể được dùng như một chỉ báo của mức tăng lượng tiền trong nền kinh tế. Mối tương quan mạnh giữa biến động của tăng trưởng tín dụng với mức tăng CPI được tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh – chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, phát hiện với độ trễ từ 5-7 tháng (Xem: http://imf.org/external/np/seminars/eng/2010/lic/pdf/AnhV.pdf).

Gói kích thích kinh tế bắt đầu từ đầu năm 2009 và tín dụng đã tăng nhanh (từ mức tăng khoảng 25% so với năm trước vào tháng 3-2009 lên gần 50% vào cuối năm) và tốc độ tăng tín dụng chỉ chậm lại khi gói bù lãi suất hết hiệu lực tháng 12-2009.

Từ bảng 2, có thể thấy chỉ số CPI (so với cùng kỳ năm trước, yoy) đã giảm nhanh từ mức cực đại vào tháng 8-2008 do chính sách thắt chặt tài chính tiền tệ của Chính phủ và do tác động của khủng hoảng kinh tế, nhưng lại bắt đầu tăng từ tháng 9-2009. Nhiều người, trong đó có người viết bài này, lúc đó đã cảnh báo nguy cơ lạm phát tăng trở lại do tác động của gói kích thích kinh tế và sự phục hồi của nền kinh tế thế giới. Chính phủ cũng đã nhận ra nguy cơ đó cùng những bất ổn kinh tế vĩ mô khác đã kéo dài nhiều năm và đã đặt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và chống lạm phát lên hàng đầu. Tuy nhiên, số liệu trong bảng và ở hình trên cho thấy CPI đã liên tục tăng từ tháng 9-2009 và đã vượt con số 8% - 9%. Dựa vào mức tăng tín dụng và độ trễ 6-7 tháng, ở hình bên, có thể dự tính lạm phát sẽ còn tăng ít nhất cho đến tháng 6-2010, đó là chưa nói đến tác động tăng giá các mặt hàng trên thị trường thế giới. Hơn thế nữa, Chính phủ cho rằng “mức tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng thấp”, tức là mức này sẽ tăng tiếp và sẽ tác động đến CPI từ tháng 9-2010 trở đi.

Như vậy, có khả năng lạm phát trong các tháng của quý II năm nay tiếp tục tăng nếu không có các biện pháp chống lạm phát quyết liệt.

Hãm phanh nhập khẩu

Về những bất cân đối kinh tế vĩ mô, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nổi cộm nhất là thâm hụt thương mại tăng cao trong quý I: Xuất khẩu đạt 14 tỉ USD, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6 tỉ USD, giảm 25%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 8 tỉ USD, tăng 28,6%. Nếu loại trừ tái xuất vàng của quý I/2009 và yếu tố tăng giá trên thị trường thế giới thì xuất khẩu hàng hóa quý I/2010 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nhập khẩu tăng rất nhanh, nhập khẩu hàng hóa quý I/2010 ước tính đạt 17,5 tỉ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 10,4 tỉ USD, tăng 28,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,1 tỉ USD, tăng 53,1%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch nhập khẩu quý I/2010 tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2009.

Bất cân đối thương mại (nhập siêu) là căn bệnh trầm kha của nền kinh tế VN từ hàng chục năm nay, kéo theo sự căng thẳng về cán cân thanh toán, gây áp lực lên đồng tiền VN và khi giá cả quốc tế tăng lên sẽ kéo giá trong nước lên theo, gây lạm phát. Mức thâm hụt thương mại quý I bằng 25% kim ngạch xuất khẩu là rất đáng lo ngại.

Những bất cân đối vĩ mô khác, đã kéo dài nhiều năm, cũng chưa hề được cải thiện. Chính phủ đã thấy rõ những khó khăn trong duy trì ổn định cân đối vĩ mô và có những biện pháp để giữ ổn định. Thời gian sẽ trả lời liệu các nỗ lực đó đạt kết quả đến đâu.

Tạo thế và lực cho sản xuất cũng như xuất khẩu




Đóng bao gạo xuất khẩu tại Công ty lương thực Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Đình Huệ/TTXVN)
Nhận định về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý 1 năm nay của ngành Công Thương, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho rằng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước tuy tăng 13,6% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng giá trị gia tăng trong công nghiệp chỉ là 5% làm cho chất lượng tăng trưởng công nghiệp có vấn đề.

Tại Hội nghị giao ban trực tuyến công tác quý 1 của Bộ Công Thương, tổ chức ngày 5/4, những vấn đề nóng được bàn nhiều là thông tin về giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, tình hình nhập siêu lớn, doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng... làm ảnh hưởng đến lợi nhuận và tình hình sản xuất kinh doanh.

Tăng trưởng nhưng chưa ấn tượng

Hầu hết lãnh đạo các ngành, các tập đoàn, tổng công ty, sở công thương các tỉnh đều cho rằng sản xuất công nghiệp trong những tháng đầu năm nay có những chuyển biến tích cực so với thời kỳ suy giảm kinh tế. Đáng chú ý, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - chiếm khoảng 90% giá trị sản xuất toàn ngành - có mức tăng 14,1% (cùng kỳ năm trước chỉ tăng 1,8%), cho thấy sự phục hồi của sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào sự gia tăng của nhóm hàng này.

Tuy vậy, theo đánh giá của Bộ Công Thương, sản xuất công nghiệp tăng trưởng không đều ở các khu vực kinh tế. Đóng góp lớn vào sự tăng trưởng trở lại của sản xuất công nghiệp vẫn là khu vực ngoài quốc doanh có mức tăng 14,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,4%. Riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nằm trong chuỗi sản xuất của các công ty đa quốc gia có đơn hàng phụ thuộc phần lớn vào công ty mẹ nên nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng trước những tín hiệu tích cực của kinh tế trong và ngoài nước.

Trong điều kiện giá cả vật tư, nguyên liệu và các chi phí đầu vào đã và đang có chiều hướng tăng, các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về vốn sản xuất.

Kim ngạch nhập khẩu ba tháng đầu năm đã đạt đến con số trên 17,5 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng yếu tố tăng giá của các mặt hàng như xăng dầu, kim loại thường, sợi các loại, phôi thép đã làm cho kim ngạch nhập khẩu tăng hơn 1,3 tỷ USD. Cả bốn nhóm hàng cần nhập khẩu, kiểm soát và hạn chế đều gia tăng kim ngạch ở mức cao.

Bộ Công Thương cho rằng nếu không có biện pháp mạnh để hạn chế nhập khẩu ngay từ tháng tới, Việt Nam sẽ không đảm bảo tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu ở mức 20% như chỉ đạo của Chính phủ (hiện ba tháng tỷ lệ này là 25%).

Tạo thế và lực

Theo Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, chín tháng còn lại của năm nay, Bộ Công Thương yêu cầu các đơn vị trong ngành tiếp tục thúc đẩy sản xuất để đảm bảo cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và khối lượng hàng hóa cho xuất khẩu.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh hoạt động cải tiến công nghệ, tăng cường quản lý, nghiên cứu sử dụng nguyên liệu và các máy móc thiết bị đã sản xuất được ở trong nước để giảm chi phí, hạ giá thành và tăng hiệu quả đầu tư kinh doanh, góp phần giảm nhập siêu.

Mặt khác, các doanh nghiệp cũng tăng cường đầu tư và giải ngân các dự án đầu tư nhằm có thêm năng lực sản xuất mới cho năm và các năm tiếp theo; riêng các dự án của ngành dệt may, da giày, nhựa khi hoàn thành sẽ tăng tự chủ sản phẩm nguyên phụ liệu trong nước, giảm nhập khẩu.

Về cân bằng cán cân thương mại, thời gian tới bộ sẽ xây dựng danh mục hàng hóa trong nước đã sản xuất được để các dự án đầu tư có thể sử dụng, góp phần giảm nhập siêu theo Nghị quyết của Chính phủ.

Bộ trưởng cho biết sắp tới Chính phủ cũng chỉ đạo các đơn vị sử dụng vốn ngân sách phải sử dụng hàng trong nước. "Làm cho cuộc vận động đi vào thực chất, nâng cao tính cạnh tranh hàng Việt," Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nói.

Về giá cả, Bộ trưởng cũng cho rằng doanh nghiệp Nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong việc đưa ra giá bán hợp lý với người tiêu dùng để tạo ra sự lan tỏa; đồng thời kiểm tra ngay một số cơ sở sản xuất và đại lý về giá thành, bán theo giá niêm yết để có hình thức xử lý ngay các trường hợp tăng giá bất hợp lý. Khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay vẫn là tiếp cận vốn tín dụng và lãi suất cho vay quá cao, Bộ Công Thương sẽ báo cáo Chính phủ để có sự chỉ đạo kịp thời cho các ngân hàng thương mại.

Một vấn đề cũng được đề cập nhiều tại hội nghị là đảm bảo điện cho sản xuất. Trong quý 1, ngành điện cố gắng đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và đời sống của nhân dân nhưng sang quý 2, tình hình sản xuất và cung ứng điện đang đứng trước nhiều khó khăn.

Vì vậy, bên cạnh việc tuyên truyền mạnh hơn về tiết kiệm điện, theo Bộ trưởng trong điều kiện không đáp ứng được 100% nhu cầu điện ngành điện phải có giải pháp trong việc phân phối điện, ưu tiên điện cho sản xuất, xuất khẩu, các cơ sở quan trọng như trường học, bệnh viện.

Tới đây, Bộ sẽ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông, thủy sản của một số ngành hàng có lượng hàng hóa lớn như gạo, thủy sản, càphê và một số nông sản khác nhằm duy trì phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân và ổn định giá hàng hóa.

Đồng thời, hai bộ sẽ xây dựng và cải tiến các phương pháp thu mua tồn trữ một số mặt hàng nông sản xuất khẩu như gạo, càphê, hạt điều, hạt tiêu để giữ giá, tránh thiệt hại cho người nông dân và doanh nghiệp./.

Làm ăn với láng giềng Campuchia: Bán hàng kèm tư vấn đầu tư



Campuchia là thị trường mở cho nhiều nhà cung cấp thiết bị xay xát lúa gạo từ Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc. Tuy vẫn là nước thiếu điện, nhưng là nơi có sản lượng lúa hàng hoá thặng dư cả triệu tấn/năm khiến Campuchia luôn là thị trường giàu tiềm năng khi nói về lúa gạo và xay xát.

Một nhà máy xay xát ở Campuchia. Ảnh: B.P.L

Ông Nguyễn Thể Hà, chuyên viên kinh tế công ty TNHH cơ khí công – nông nghiệp Bùi Văn Ngọ, tiên đoán, không bao lâu nữa thị trường Campuchia sẽ phát triển nếu họ có điện, có vốn, doanh nhân cảm nhận rằng họ đang bị cạnh tranh và nếu không thay đổi họ sẽ khó tồn tại được.

Ưu thế người đi trước

Trước năm 1975, những doanh nghiệp ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã nhắm tới thị trường này. Việc mua bán giữa thương nhân Sài Gòn – Chợ Lớn với Nam Vang (Phnom Penh) là quan hệ bình thường. Ông Bùi Phong Lưu, giám đốc công ty TNHH cơ khí công – nông nghiệp Bùi Văn Ngọ, một trong số hiếm hoi doanh nghiệp sản xuất thiết bị xay xát lúa gạo của Việt Nam tạo được lòng tin ở Campuchia, cho biết vào thời gian này gia đình ông... tuy không cung cấp những loại máy đồ sộ như bây giờ mà chỉ cung cấp béc máy ép dầu dừa, béc đốt lò gạch, lò chưng cất rượu, ghế cho rạp hát... nói chung là đồ cơ khí nhưng đã nghĩ tới một thị trường khác mênh mông hơn. Năm 1989, cơ sở sản xuất gia đình ông Lưu trở thành hợp tác xã chuyên gia công cơ khí theo đơn đặt hàng. Lúc đó, hợp tác xã do cha của ông (ông Bùi Văn Ngọ điều hành), đẩy mạnh chế tạo máy xay xát gạo, cối lức, gằng, cối xát trắng. Hàng hoá tự chảy theo “kênh đào” do thương nhân từ Nam Vang và Sài Gòn – Chợ Lớn khơi thông. “Những thiết bị do chúng tôi cung cấp trước đây, nhiều nhà máy vẫn còn xài”, ông Hà khẳng định.

Năm 1995, công ty Bùi Văn Ngọ đặt đại lý tại Campuchia, nhưng công việc đầu tiên là huấn luyện tài cải (người lắp máy)... Ông Lưu nói: “Lúc đó, nhiều người ở Campuchia đặt hàng của mình ở Indonesia, Thái Lan – trong số 20 quốc gia có nhà phân phối, cuối cùng họ tìm đến Việt Nam. Chúng tôi nghĩ đã đến lúc lập một đại lý. Nhưng việc đầu tiên là làm cho họ hiểu cách chọn thiết bị vừa quy mô và phù hợp xu hướng. Từ đó đến nay, tuy chưa có so sánh chuyên sâu, nhưng phụ tùng, thiết bị vẫn bán đều đều, thị trường phát triển ổn định”.

Doanh nhân Trung Quốc, Thái Lan cũng đưa hàng vào thị trường này. Nhưng một số chủ nhà máy vẫn xem việc nhập thiết bị từ Việt Nam là cách rút ngắn khoảng cách. Theo ông Lưu, do hạn chế về vốn liếng, thị trường, thiết bị, nhân lực, tập quán canh tác, cách quản lý nông hộ, chính sách... nên công nghệ của nhiều nhà máy ở Campuchia trễ hơn Việt Nam từ 10 – 15 năm. Chính sự am hiểu nhu cầu của người muốn làm nhà máy: chất lượng hàng của Việt Nam tốt hơn, ngang tầm hàng cùng loại từ các nước khác trên đất Campuchia, giá rẻ hơn, mua bán dễ hơn và lời tư vấn sát sườn khiến người Campuchia mua hàng của công ty Bùi Văn Ngọ.

Giữ thị trường từ việc hiểu, chia sẻ với khách hàng

Ông Hà nói: “Nhiều chủ nhà máy là người Hoa ở Battambang rất thích những loại máy có công suất 40 tấn/giờ như ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng phải khuyên họ hãy chờ đợi vì điện thế của Campuchia không đủ để vận hành. Họ làm nhà máy chà y như người Hoa ở Việt Nam, cách vận hành chành vựa cũng y hệt”. Theo ông Hà, sự tồn tại đủ loại thiết bị có thế hệ khác nhau, ví dụ họ xài côn, dây trân thì Việt Nam cũng sẵn sàng cung cấp và nếu họ muốn nhà máy lớn hơn, nhưng điện thế chưa tới 500KW thì có lời khuyên đừng làm. Có lẽ đó là lý do mà họ không rời bỏ nhà cung cấp Việt Nam.

Sự tăng tốc trong hệ thống các nhà máy chế biến gạo của Việt Nam cũng giống như Thái Lan giai đoạn 2000. Nhiều nhà máy đã trang bị thiết bị xay xát có công suất 40 tấn/giờ trở lên. Hiện nay các thiết bị xay xát của Campuchia phổ biến 2 tấn/giờ. Tuy vậy, ông Lưu dự báo: “Campuchia sẽ mạnh lên, nhu cầu chế biến từ 6 – 8 triệu tấn lúa/năm đến sản lượng lúa gấp 3 lần/năm (18 – 20 triệu tấn lúa) cũng là điều bình thường vì Việt Nam tìm cách để phát triển, Campuchia cũng vậy”.

Trong ba năm nay, Campuchia trở mình, mạnh lên, luật pháp đã thay đổi, bản thân họ đầu tư, cho phép đầu tư. Họ có những nhà đầu tư từ nước khác. Khi làm ăn, họ mạnh dạn chứ không chờ đợi. Các tổ chức quốc tế cũng tìm cách giúp Campuchia. “Vấn đề là vận dụng chính sách gì của xứ mình, nước bạn để cùng phát triển”, ông Lưu nói.

Nhiều mặt hàng thiết yếu có xu hướng giảm giá




Dự kiến giá gas sẽ giảm trong thời gian tới. Ảnh: Thái Hiền

Theo dự báo của Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính, trong quý II-2010, một số mặt hàng thiết yếu có xu hướng giảm giá.

Cụ thể, giá đường ổn định, thậm chí giảm nhẹ do lượng hàng tồn kho tại các nhà máy và đường nhập khẩu theo hạn ngạch hiện lên tới hơn 100.000 tấn, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng. Giá thực phẩm tươi sống như thịt, cá, rau củ, quả… sẽ giảm nhẹ do bắt đầu vào hè, thời tiết thuận lợi cho trồng trọt nên lượng cung thường tăng lên.

Giá gas dự kiến sẽ giảm khoảng 5.500 đồng/bình 12kg do giá thế giới có hướng giảm. Thuốc chữa bệnh, xăng dầu là hai mặt hàng dự kiến sẽ ổn định giá. Các mặt hàng lúa gạo, phân bón, thức ăn chăn nuôi dự kiến chỉ tăng nhẹ.

Tuy nhiên, giá sữa bột, thép xây dựng, xi măng vẫn có chiều hướng tăng. Cụ thể, giá xi măng có thể tăng nhẹ do chi phí đầu vào như điện, xăng dầu... tăng và nhu cầu tiêu thụ lên cao trong mùa xây dựng.

Thép xây dựng dự kiến tăng do áp lực tăng chi phí đầu vào, tuy nhiên sẽ sớm ổn định trở lại trong tháng 5 và tháng 6. Giá sữa bột tiếp tục đứng ở mức cao do chủ yếu phải nhập khẩu nên chịu áp lực tăng giá khi tỷ giá điều chỉnh tăng.

Trung Quốc thâm hụt thương mại lần đầu trong 6 năm



Nhập khẩu của Trung Quốc đang tăng nhanh hơn xuất khẩu - Ảnh: Reuters.

Cán cân thương mại của Trung Quốc đã đảo chiều trong tháng 3/2010. Đây là thâm hụt thương mại theo tháng đầu tiên của nước này trong vòng 6 năm qua, Tổng cục Hải quan Trung Quốc cho biết hôm 9/4.

Tân Hoa xã dẫn báo cáo của Tổng cục Hải quan Trung Quốc cho biết, thâm hụt thương mại tháng 3 của nước này là 7,24 tỷ USD.

Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc trong tháng báo cáo tăng 24,3% so với cùng kỳ năm 2009, lên 112,11 tỷ USD. Trong khi, nhập khẩu lại tăng tới 66%, lên 119,35 tỷ USD.

Tính chung cả 3 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn đạt thặng dư thương mại 14,49 tỷ USD. Tuy nhiên, nếu so với quý 1/2009, thặng dư thương mại của quốc gia này đã giảm mạnh tới 76,7%.

Thặng dư thương mại của Trung Quốc đã thu hẹp trong vài tháng qua do nhu cầu nội địa tăng mạnh khiến nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn xuất khẩu.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong quý 1/2010 là 617,85 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm 2009. Riêng tháng 3, xuất nhập khẩu của nước này là 231,46 tỷ USD, tăng 42,8%.

Trước đó, hôm 23/3, báo chí Trung Quốc dẫn lời Thủ tướng Ôn Gia Bảo cho hay, thâm hụt thương mại của nước này có thể sẽ hơn 8 tỷ USD.

Thị trường xuất khẩu - lo xa không bằng lo gần!


Chuyện vất vả ngược xuôi, từ quốc gia gần đến những nước xa xôi để tìm thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam đã không còn là điều mới mẻ. Thế nhưng, chuyến khảo sát thị trường Singapore của Tổng công ty công nghiệp thực phẩm Đồng Nai(Donataba) từ 17 đến 21-3 vừa qua, gồm lãnh đạo tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên, lại xới lên nhiều vấn đề phải trăn trở.

Nhiều mặt hàng lương thực và thực phẩm bày bán ở FP Singapore cũng không xa lạ gì với Đồng Nai.

* Cơ hội trong tầm tay

Hầu hết các thành viên trong đoàn công tác của Donataba đều tỏ ra phấn chấn khi được nghe ông Tng Ah Yiam, Giám đốc thương mại quốc tế của FairPrice Group (FP), nhà bán lẻ lớn nhất ở Singapore, kể câu chuyện: "Cách nay hơn 2 năm, FP không hề biết gì về gạo Việt Nam. 95% gạo nhập là của Thái Lan và 5% từ Úc. Thế nhưng hiện nay, chúng tôi đã nhập từ Việt Nam khoảng 800 tấn gạo/tháng và xu hướng sẽ tăng lên. Lý do nhập gạo Việt Nam vì chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh".

Ông Tng Ah Yiam cho biết, FP có hơn 200 cửa hàng bán lẻ và siêu thị, hàng tuần phục vụ khoảng 2,5 triệu lượt người đến mua sắm, chiếm khoảng 53% thị phần bán lẻ của Singapore. 95% hàng hóa bán lẻ của FP được nhập khẩu với doanh số nhập khẩu hàng năm lên đến 300 triệu USD. Có khá nhiều nông sản và thực phẩm được FP nhập từ các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, bởi vì tập quán tiêu dùng các nước trong khu vực cũng khá giống nhau, vận chuyển thuận tiện và giá cả hợp lý. "Việt Nam là quốc gia trong cộng đồng ASEAN lại rất gần Singapore và xu hướng của FP cũng muốn tìm kiếm các đối tác, bạn hàng ở Việt Nam với thế mạnh là hải sản, trái cây và nhiều loại nông sản khác. Nếu hàng hóa xuất khẩu của Donataba có chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh sẽ trở thành đối tác của FP" - ông Tng Ah Yiam nhấn mạnh.

FP là mô hình liên hiệp hợp tác xã được thành lập vào năm 1983 với 500 ngàn xã viên, chiếm khoảng 1/10 dân số của Singapore, hoạt động và kinh doanh trên nhiều lĩnh vực như xuất nhập khẩu, bán lẻ, xuất bản báo chí, bảo hiểm, chăm sóc người già... FP có trách nhiệm tham gia bình ổn giá tại thị trường Singapore. Mục tiêu FP trong tương lai là trở thành nhà bán lẻ toàn cầu.

Qua trao đổi với các thành viên lãnh đạo FP, giám đốc các doanh nghiệp của Donataba cho rằng cơ hội khai thác thị trường xuất khẩu sang Singapore không quá khó. Nhưng để "khai thông" được thị trường này lại phải bắt đầu từ trong nước. Bà Lệ Hồng, Tổng giám đốc Donataba, khẳng định: "Đồng Nai có nhiều sản phẩm nông nghiệp có thể đáp ứng yêu cầu của FP. Donataba có thể tổ chức sản xuất hoặc làm đầu mối kết nối nguồn hàng cung cấp cho FP. Nếu có hợp tác xuất khẩu cho FP thì Donataba sẽ không bán sản phẩm giá rẻ mà cung cấp hàng hóa có chất lượng tốt và đảm bảo an toàn".

* Lo xa không bằng lo gần

Gạo Jasmin Việt Nam được FP nhập khẩu bày bán ở siêu thị.

Rảo qua siêu thị bán lẻ của FP, các thành viên trong đoàn doanh nghiệp của Donataba xăm xoi khá kỹ từ bao bì, trọng lượng và giá bán của các loại sản phẩm gần gũi với Đồng Nai như: thịt heo, thịt gà, gạo, các loại rau, quả củ... Điều dễ nhận thấy là giá cả ở Singapore rất đắt đỏ. Một trái bắp tươi có giá khoảng hơn 30 ngàn đồng (quy đổi đô la Singapore sang tiền đồng Việt Nam); 180gr nấm rơm hơn 38 ngàn đồng; 150gr nấm mèo khoảng 14 ngàn đồng; 1kg đậu phộng còn vỏ gần 70 ngàn đồng (nhập từ Trung Quốc);1kg thịt phi lê hơn 300 ngàn đồng; 1kg thịt sườn gần 200 ngàn đồng; 1kg cánh gà 115 ngàn đồng... Tại siêu thị của FG, cũng bày bán một vài sản phẩm "Made in Vietnam" như: trái sa-pô-chê của DNTN Lợi Phong (tỉnh Bình Dương); bánh tráng của Safaco (mang danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao); trái thanh long (tỉnh Bình Thuận), gạo Jasmine... Một bịch bánh tráng 300gr của Safaco bán giá hơn 30 ngàn đồng; 1kg gạo Jasmine có giá hơn 110 ngàn đồng.

Ông Tng Ah Yiam: "Lúc ban đầu, FP mới nhập gạo từ Việt Nam về bán thử tại các siêu thị chỉ có vài chục tấn/tháng và nhận thấy sự phản ứng của thị trường khá chậm chạp. Nhưng một thời gian sau, người tiêu dùng Sigapore đã chấp nhận vì chất lượng gạo tốt như các quốc gia xuất khẩu gạo khác và giá lại rẻ hơn khoảng 20%. FP cũng có nhập khẩu thanh long, bánh tráng, bí đỏ vỏ xanh và trái sa-pô-chê của Việt Nam

Quan điểm của FP trong nhập khẩu là không ấn định bất kỳ nhà cung cấp và nguồn cung cấp nào mà luôn tìm kiếm đối tác để có mức giá cạnh tranh. Việt Nam có nhiều tiềm năng đẩy mạnh xuất khẩu vào Singapore

X.P

Ông Phạm Văn Yên, Giám đốc Xí nghiệp sản xuất - dịch vụ nông nghiệp Cẩm Mỹ , cho biết: "Xoài ở địa phương tôi ngon lắm cũng chưa tới 20 ngàn đồng/kg, còn tại siêu thị FP bán tới cả 100 ngàn đồng". Ông Lê Văn Mẽ, Giám đốc Công ty CP chăn nuôi heo Phú Sơn, nhận xét: "Các sản phẩm thịt heo bày bán ở FP không phải là Đồng Nai không chế biến được. Vấn đề là phải quản lý tốt từ đầu vào đến đầu ra để không bị tốt, xấu lẫn lộn". Bà Lệ Hồng, Tổng giám đốc Donataba, cũng thừa nhận rằng khó khăn lớn nhất trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản ở Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng là phải tổ chức lại quy trình sản xuất trong chăn nuôi và trồng trọt, đảm bảo khép kín để có thể quản lý được chất lượng sản phẩm sạch và an toàn, với số lượng lớn có thể đáp ứng quanh năm cho nhà nhập khẩu.

Quả thật, cơ hội xuất khẩu cho hàng nông sản Đồng Nai - Việt Nam ở trong tầm tay. Thế nhưng, để thay đổi tập quán và thói quen sản xuất nhỏ lẻ của nông dân là cực kỳ khó khăn. Vì vậy, nỗi lo lớn nhất trong việc tìm đầu ra cho thị trường xuất khẩu nông sản chính là ở... quê nhà!

Nói chung là... Chiếc iphone và... cái tăm



Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu cả nước quý I-2010 ước đạt 17,6 tỷ USD, tăng 38,4% so với cùng kỳ năm trước, trong khi đó kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ đạt 14,1 tỷ USD, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2009.

"Kết tội" những nguyên nhân nhập siêu, một quan chức cho biết chính các thiết bị viễn thông 3G, trong đó chiếc điện thoại iphone là thủ phạm chủ yếu với đóng góp khoảng 1 tỷ USD. Tuy nhiên, nếu chi cả 1 tỷ USD mua cái iphone thì các mạng di động bán cho ai? Nhưng có lẽ chưa cần bàn đến chuyện cách lập luận này đúng hay sai...

Iphone đại diện cho nhóm hàng xa xỉ trong kim ngạch nhập khẩu. Ngoài iphone, có thể kể đến hàng loạt "kẻ phạm tội" khác như ô tô, xe máy, các mặt hàng điện tử, máy tính... Vấn đề ở chỗ chúng ta còn nhập khẩu những gì?

Nhập siêu quý I lên tới 3,5 tỷ USD, bằng 25,6% kim ngạch xuất khẩu, trong đó các mặt hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất như bông, vải sợi, phôi thép... có mức tăng cao. Chẳng hạn, chúng ta nhập khẩu 422 triệu USD các sản phẩm hóa chất, tăng 52,9%; giấy các loại 213 nghìn tấn, tăng 12,7%; bông các loại 92 nghìn tấn, tăng 162,9%; sợi các loại 124 nghìn tấn, tăng 124%; rồi nào là nguyên phụ liệu da giày, kim loại thường...

Nhập siêu lớn đâu phải do chúng ta "tha" về các mặt hàng xa xỉ. Tại sao trong khi đang tồn kho khoảng 300 nghìn tấn phân bón, các doanh nghiệp trong nước đang phải sản xuất dưới công suất thiết kế, chúng ta lại "chở về" chính mặt hàng này? Nếu để ý trên thị trường, có thể thấy chúng ta gần như nhập khẩu tất tần tật mặt hàng, từ tiêu dùng tới nguyên phụ liệu sản xuất, dây chuyền máy móc, thiết bị... Cụ thể, trong cơ cấu hàng nhập khẩu quý I, gần 90% kim ngạch dành cho máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu...

Chiếc iphone không phải là... cái tội. Nhóm hàng xa xỉ không phải là tội phạm.

Nói chung là như vậy...

Những câu hỏi rất đơn giản, được đặt ra đã lâu nhưng chưa hề được trả lời:

Việt Nam là nước nông nghiệp, lực lượng lao động trong lĩnh vực này chiếm đa số nhưng tại sao Việt Nam lại phải đi nhập về từ giống má, dây chuyền chế biến nông sản đến phân bón, thức ăn chăn nuôi? Phải chăng đây là những mặt hàng quá khó để sản xuất?

Giao thương là tất yếu nhưng tại sao Việt Nam là "cường quốc dệt may, da giày" mà trên thị trường, hầu như ít doanh nghiệp nội địa nào có được thị phần đáng kể?... Đến cái tăm người dân sử dụng cũng phải đi nhập. Tương tự là cây kim, sợi chỉ... Xem ra, trách chiếc iphone... oan quá.

Rõ ràng điều chúng ta cần để kiềm chế nhập siêu là tổ chức lại sản xuất. Song chừng nào tư duy lãnh đạo còn chưa nhận thức được điều này, chừng đó chúng ta vẫn còn thói quen "túm" bất cứ "đối tượng khả nghi" nào để đổ tội nhập siêu. Như vụ iphone chẳng hạn.

Tìm lời giải cho bài toán nhập siêu: Trước mắt, cần đẩy mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu



Trong khi dư luận lo ngại nhập siêu cao thì Bộ Công Thương lại nhận định việc nhập khẩu và nhập siêu tăng trong quý I chưa đáng lo ngại. Tuy nhiên, quyết liệt hạn chế nhập siêu vẫn được Bộ Công Thương ưu tiên hàng đầu trong công tác điều hành hiện nay.

Đẩy mạnh xuất khẩu vẫn là giải pháp tối ưu trong giai đoạn trước mắt để đảm bảo cán cân thương mại. Ảnh minh họa

Nhập siêu chưa đáng lo ngại !

Thông tin 3 tháng đầu năm Việt Nam nhập tới gần 1 tỷ USD riêng mặt hàng điện thoại, nhóm hàng được coi là xa xỉ đã khiến dư luận quan ngại, khi mà chúng ta đang đối mặt với bối cảnh nhập siêu được cho là căng thẳng hiện nay. Nhập siêu quý I/2010 là 3,4 tỷ USD, bằng 23,5% kim ngạch nhập khẩu (KNNK).

Cho dù không tính cả mặt hàng vàng (vốn là mặt hàng được cho là không có ý nghĩa thúc đẩy sản xuất) thì nhập siêu cũng đã ở mức 3,14 tỷ USD bằng 22,2% KNNK.

Đáng chú ý, nhóm hàng cần nhập khẩu phục vụ cho sản xuất (nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị…) quý I tăng 37,7% chiếm 78,8% KNNK. Trong khi nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu tăng 61% so với cùng kỳ 2009, chiếm 11,7% tỷ trọng của KNXNK, trong nhóm này mặt hàng vàng tăng 800% so với cùng kỳ 2009. Nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu cũng tăng 38,6% đạt 1,7 tỷ USD.

Trong khi dư luận tỏ ra quan ngại trước việc nhập siêu cao như đã nêu, thì Bộ Công Thương lại nhận định việc nhập khẩu và nhập siêu tăng trong quý I vẫn chưa đáng lo ngại, bởi 5 lý do dưới đây.

Thứ nhất, dù nhập khẩu tăng cao 40,2% trong khi xuất khẩu lại giảm nhẹ, ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại trong quý I/2010, nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm 2008 thì nhập khẩu vẫn thấp hơn 17%, trong khi đó xuất khẩu lại tăng hơn 9,8% (năm 2008 là năm bắt đầu xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới).

Thứ hai, tình hình xuất nhập khẩu có chuyển biến tích cực theo hướng xuất khẩu tăng lên, trong khi nhập khẩu giảm qua các tháng (tháng 3 xuất khẩu tăng 49,5%, trong khi nhập khẩu chỉ tăng 33,1%).

Thứ ba, nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh hơn nhiều so với nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước, cụ thể nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 57,3%, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ tăng 30,4%.

Thứ tư, việc nhập khẩu nhiều mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu tăng mạnh về lượng trong thời gian gần đây cho thấy sản xuất, xuất khẩu đang trên đà tăng trưởng. Tuy nhiên cũng phải thấy giá nhập khẩu của nhiều loại mặt hàng tăng mạnh ảnh hưởng không nhỏ tới đầu vào của sản xuất kinh doanh, trong khi đó giá hàng hóa xuất khẩu lại tăng không bằng giá nhập khẩu, gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Thứ năm, mặc dù nhập siêu có dấu hiệu tăng trong 3 tháng đầu năm, song nếu so với cùng kỳ năm 2008 (thời điểm đó nhập siêu ở mức 64% /tổng KNXNK) thì nhập siêu 3 tháng đầu năm 2010 vẫn là ở mức chấp nhận được.

Tuy nhiên, quyết liệt hạn chế nhập siêu vẫn được Bộ Công Thương ưu tiên hàng đầu trong công tác điều hành hiện nay.

Ưu tiên hàng sản xuất trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu

Được biết, Bộ Công Thương đã đề cập tới một số biện pháp nhằm giảm nhập siêu trong thời gian tới, như chỉ ưu tiên nhập khẩu vật tư thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ đầu tư và sản xuất trong nước, đồng thời hạn chế nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ (ô tô, điện thoại), một số thực phẩm, nông lâm thủy sản không cần thiết.

Song theo một lãnh đạo của Bộ Công Thương, cái khó nhất hiện nay là các loại hàng hóa cần hạn chế và kiểm soát nhằm giảm nhập siêu lại chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nhập khẩu, còn các mặt hàng cần phải nhập khẩu để phục vụ sản xuất thì đã chiếm tới 88%.

Chẳng hạn, nếu so sánh kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng xa xỉ không thiết yếu năm 2009 chỉ ở mức 5- 6 tỷ USD thì năm 2010 theo tính toán cũng chỉ ở mức đó. Nếu tập trung “loại trừ” được việc nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu thì cũng chỉ chiếm ở mức khoảng trên 8 %/ tổng KNNK.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hiện Bộ Công Thương đang rà soát các danh mục hàng thóa, thiết bị trong nước sản xuất được để ưu tiên sử dụng thay cho hàng nhập khẩu. Theo Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch ( Bộ Công Thương) Huỳnh Đắc Thắng, nhanh nhất cũng phải cuối quý II mới hoàn thành danh mục này.

Được biết, Bộ Công Thương sẽ triển khai xây dựng danh mục hàng hóa, thiết bị trong nước sản xuất được theo hướng căn cứ vào mã hàng và đề xuất can thiệp bằng công cụ thuế. Việc xây dựng danh mục này căn cứ vào mã sản phẩm nhằm tạo điều kiện cho việc kiểm soát thuận tiện và tạo tính minh bạch cho doanh nghiệp cũng như các cơ quan giám sát. Bộ Công Thương cũng đang phối hợp với Tổng cục Hải quan thống nhất các mã hàng và cùng với các doanh nghiệp rà soát kê khai các sản phẩm.

Tuy nhiên đẩy mạnh xuất khẩu vẫn được coi là giải pháp tối ưu trong giai đoạn trước mắt để đảm bảo cán cân thương mại.

Bởi theo phân tích cho thấy, mặc dù xuất khẩu quý I/2010 chỉ tăng nhẹ, nhưng so với năm 2008 tăng 9,8% và cơ cấu hàng xuất khẩu có nhiều chuyển biến tích cực.

Tỷ trọng nhóm hàng xuất khẩu chế biến tăng mạnh chiếm 65% tổng KNXK. So với năm 2009, tỷ trọng này chỉ tăng 7% và so với năm 2008 tỷ trọng này tăng 8,6%. Tỷ trọng nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản xuất khẩu giảm mạnh xuống còn 13,8% so với 17,1% của năm 2009 và 23,7% của năm 2008.

Thêm nữa, xuất khẩu nhiều mặt hàng công nghiệp có mức tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ 2008 và 2009.

Cụ thể, sản phẩm hóa chất đã tăng 39,3%, sản phẩm chất dẻo tăng 23,7%, sản phẩm cao su tăng 95,6%, sản phẩm gỗ tăng 31,7%, hàng dệt may tăng 15,5%, hàng điện tử tăng 40,2%, máy móc thiết bị tăng 71,8%, dây cáp điện tăng 121%, phương tiện vận tải tăng 160%... Đây là tín hiệu đáng mừng và là cơ sở để dự báo xuất khẩu năm nay sẽ tăng trưởng khá.

Bộ Công Thương kỳ vọng sẽ giữ được con số nhập siêu ở mức 20% theo Nghị quyết của Quốc hội.

Điểm tựa xuất khẩu từ thị trường ASEAN



Các doanh nghiệp nên coi thị trường ASEAN là nơi tạo đà để vươn ra các thị trường lớn, thay vì chỉ tập trung tăng xuất khẩu vào khu vực này.
Theo báo cáo của Bộ Công thương, năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường các quốc gia Đông Nam Á đạt 8,26 tỷ USD, tương đương 15,2% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó, xuất khẩu sang Singapore đạt 2,06 tỷ USD, Philippines đạt 1,4 tỷ USD, Thái Lan đạt 1,27 tỷ USD, Malaysia đạt 1,67 tỷ USD, Campuchia đạt 1,12 tỷ USD, Indonesia đạt 762 triệu USD, Lào 164 triệu USD...

Kế hoạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN trong năm nay được Bộ Công thương đưa ra từ đầu là khoảng 8,88 tỷ USD. Thực tế hoạt động trong tháng đầu năm cho thấy, xuất khẩu vào khu vực này đang khá thuận lợi. Tháng 1/2010, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 850,6 triệu USD, tăng 8,4% so với tháng 12 năm 2009 và tăng tới 60,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, mặt hàng dầu thô và gạo có mức tăng mạnh nhất. Xuất khẩu dầu thô vào ASEAN đạt 194,8 triệu USD, tăng tới 83,22% so với tháng 12/2009; xuất khẩu gạo đạt 149,25 triệu USD, tăng 45,33% so với tháng 12/2009 và tăng gần gấp 4 lần so với tháng 1/2009.

Tuy nhiên, xuất khẩu nhiều mặt hàng vào khu vực này không đạt kết quả như mong muốn, một phần do nhiều doanh nghiệp chưa biết tận dụng những ưu đãi thuế quan CEPT/AFTA. Thống kê của Bộ Công thương cho thấy, trong tổng số 8,26 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này năm 2009, tỷ lệ sử dụng C/O form D để tận dụng ưu đãi thuế quan CEPT/AFTA chỉ chiếm dưới 20%.

Ông Lê Triệu Dũng, Trưởng phòng ASEAN (Vụ Chính sách thương mại đa biên - Bộ Công thương) cho biết, tỷ lệ này đã tăng lên trong những năm qua. Tuy nhiên, có nhiều lý do dẫn tới việc nhiều doanh nghiệp chưa sử dụng C/O form D. “Lý do dễ thấy nhất là với nhiều mặt hàng, thuế MFN không chênh quá lớn so với thuế trong CEPT/AFTA, nên doanh nghiệp không cần phải sử dụng C/O form D trong hoạt động xuất khẩu. Thứ nữa là do hàng hoá của doanh nghiệp xuất khẩu không đạt tiêu chí (hàm lượng ASEAN chiếm trên 40%) để được cấp C/O form D. Cuối cùng là tình trạng hạn chế thông tin, nên doanh nghiệp chưa tận dụng được ưu đãi thuế quan”, ông Dũng phân tích.

Trên thực tế, ASEAN là một thị trường quan trọng của xuất khẩu và tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2009 là 15,2%. Do đó, Bộ Công thương luôn khuyến khích các doanh nghiệp tìm hiểu thông tin liên quan tới việc sử dụng C/O form D để tận dụng ưu đãi thuế quan và đẩy mạnh xuất khẩu. Trong nhiều cuộc họp với các doanh nghiệp xuất khẩu, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên đã nói tới điều này và coi đây là một trong những biện pháp cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu, bởi trong vài năm gần đây, tỷ lệ nhập siêu từ thị trường ASEAN luôn cao.

Tuy nhiên, để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường ASEAN đối với các doanh nghiệp là không dễ. Và dù có tăng cường sử dụng C/O form D trong xuất khẩu, các doanh nghiệp cũng không thể tăng đột biến lượng hàng hoá vào thị trường này. Các chuyên gia thương mại lý giải rằng, lý do cơ bản khiến các doanh nghiệp khó có thể tăng mạnh hàng xuất khẩu vào thị trường ASEAN do cơ cấu hàng hoá của Việt Nam khá tương đồng với các nước trong khối. Do vậy, để tăng khả năng tận dụng thị trường này, các doanh nghiệp cần phải tìm thêm hướng đi khác.

Theo ông Trần Quốc Khánh, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương), việc dựa vào thế của khối ASEAN để tiến vào các khu vực kinh tế khác là hết sức quan trọng. “Doanh nghiệp khó có thể nghĩ rằng, thị trường ASEAN sẽ giúp họ tăng đột biến xuất khẩu, vì thực chất, tỷ lệ buôn bán hàng hoá của các thành viên ASEAN trong nội khối cũng không phải là lớn. Tuy nhiên, nếu nhìn từ chiến lược các nước khác với ASEAN, có thể thấy, doanh nghiệp có thể tận dụng được các cơ hội. Chẳng hạn, đối tác Nhật Bản nhìn cả thị trường ASEAN để có chiến lược sản xuất và xuất khẩu hàng hoá”, ông Khánh phân tích. Chuyên gia trong lĩnh vực đàm phán hội nhập kinh tế quốc tế này cho rằng, với ví dụ về Nhật Bản nói trên, để đạt hiệu quả cao, các doanh nghiệp cần xác định mình sẽ chuẩn bị như thế nào để trở thành một điểm nhấn quan trọng trong dây chuyền sản xuất, tiêu thụ hàng hoá của đối tác.

Đây là cách làm đòi hỏi cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp phải có tầm nhìn dài hạn. Khi đó, thị trường ASEAN sẽ trở thành một điểm tựa quan trọng để các doanh nghiệp có thể vươn xa hơn.

Khó đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 61,1 tỉ đô la


Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 61,1 tỉ đô la Mỹ trong năm 2010 là một thách thức lớn - Ảnh: Văn Nam

Với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 61,1 tỉ đô la Mỹ, tăng 7% so với 2009, theo nhận định của Bộ Công Thương, đây là một thách thức lớn không dễ đạt được.

Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm đạt 14 tỉ đô la Mỹ (bình quân một tháng đạt 4,67 tỉ đô la), do vậy 9 tháng tiếp theo phải đạt trên 47 tỉ đô la nữa, bình quân mỗi tháng phải đạt gần 5,2 tỉ đô la Mỹ.

Bộ Công Thương cho rằng, nếu như theo cơ cấu xuất khẩu các quí của những năm trước và xu hướng nền kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi chậm thì đây là một thách thức rất lớn cho toàn ngành.

Trong quí 1-2010, mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng khá, gần 20% so với cùng kỳ, nhưng trong đó có nguyên nhân giá dầu thô ở mức cao, giá của các mặt hàng nông sản xuất khẩu cũng cao hơn so với cùng kỳ.

Tuy nhiên, Bộ Công Thương cho rằng lượng xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản, dầu thô và than đá đã giảm trong quí 1 và sẽ còn giảm trong thời gian tới do sự hạn chế về sản lượng hàng hóa và việc hạn chế xuất khẩu tài nguyên.

Trong quí 1-2010, do một số mặt hàng nông sản giảm khối lượng xuất khẩu nên đã làm cho nhóm hàng nông sản giảm 524 triệu đô la Mỹ.

Trong khi đó, do phải cung cấp cho nhà máy lọc dầu Dung Quất nên lượng xuất khẩu dầu thô cũng giảm mạnh trong quí 1, ước chỉ đạt 1,3 tỉ đô la Mỹ, bằng 90,4% so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu than ước quí 1 cũng chỉ đạt khoảng 4,7 triệu tấn, bằng 84,4% so với cùng kỳ...

Giá hàng hoá chưa chịu giảm theo USD



Từ cuối năm 2009 đến nay, sau khi tỷ giá chính thức của đồng Việt Nam so với đôla được ngân hàng Nhà nước điều chỉnh hai lần, giá USD trên thị trường đã giảm sát giá chính thức, song người tiêu dùng vẫn chưa được hưởng lợi gì.

Ngày 11.4, bán đôla ở các tiệm vàng, cửa hàng kim hoàn ở mức 19.130 đồng/USD, so với tỷ giá của ngân hàng niêm yết là 19.100 đồng/USD, thì mức chênh lệch chỉ còn 30 đồng/USD (so với mức chênh lệch khoảng 1.000 đồng trước đây). Tại các siêu thị, cho đến thời điểm này vẫn chưa có nhà cung cấp nào điều chỉnh giá giảm xuống vì tỷ giá đã giảm. Trong khi đó, từ đầu năm 2010, nhiều nhà cung cấp đã đề nghị điều chỉnh giá thực phẩm, hoá mỹ phẩm, hàng nhập tăng bình quân 3 – 5% với lý do tỷ giá biến động.

Ông Khang, nhà kinh doanh hoá mỹ phẩm vừa nhập lô hàng về đến TP.HCM vào ngày 8.4, nói: “Tỷ giá mới giảm trong hai tuần trở lại đây, chưa có dấu hiệu nào cho thấy tỷ giá này có thể ổn định chắc chắn, nên nếu điều chỉnh giá bán xuống, lỡ tỷ giá tăng trở lại thì… mệt”.

Bà Nguyễn Phương Thảo, giám đốc Maximark nêu ý kiến: “Tỷ giá thị trường tự do gần bằng tỷ giá ngân hàng là do ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá. Còn từ trước đến giờ, người buôn bán luôn phải căn cứ theo tỷ giá thị trường tự do. Nếu tính theo thời điểm cùng kỳ năm ngoái, tỷ giá thị trường khoảng 18.200 – 18.400 đồng/USD, thì rõ ràng tỷ giá trên 19.100 đồng/USD hiện nay là đã tăng. Nhiều năm qua, tỷ giá đều biến động theo hướng tăng lên sau mỗi năm, do vậy việc đề nghị nhà cung cấp hàng nhập giảm giá chỉ làm được khi tỷ giá ổn định thời gian dài”.

Đến các thẩm mỹ viện đang niêm yết giá bán dịch vụ và sản phẩm bằng đôla, hầu hết các nơi vẫn giữ mức quy đổi cho khách là 19.000 đồng/USD. Cô Nhung, nhân viên thẩm mỹ viện trên đường 3.2 nói tỷ giá 19.000 đồng này đã giữ từ tháng 10.2009 đến nay, từ khi tỷ giá ở tiệm vàng và ngân hàng chênh nhau hơn 1.000 đồng/USD, khách đã đồng ý thoả thuận là lấy mức chênh trung bình. Vậy nên bây giờ tỷ giá ở tiệm vàng và ngân hàng bằng nhau chăng nữa, thì tiệm vẫn giữ giá này.

Mấy ngày qua, tỷ giá đôla Mỹ đã giảm nhưng giá nhóm hàng điện máy, máy tính vẫn như cũ. Trong khi các nhà bán lẻ “chốt giá” các nhà nhập khẩu bằng tỷ giá đúng với tỷ giá thị trường vào thời điểm nhận hàng thì giá bán ra, trong điều kiện tỷ giá thấp, nhà bán lẻ vẫn “lơ là” với độ chênh tỷ giá. “Nếu tỷ giá hạ mạnh, khoảng 5 – 7%, chắc chắn lúc đó mới có mặt bằng giá mới. Còn bây giờ tỷ giá giảm chưa tới 1%, không thể điều chỉnh giá mới được. Nếu lô hàng nào bán không tốt, chúng tôi sẽ có chính sách khuyến mãi bằng hình thức giảm giá để kích thích bán hàng”, nhà bán lẻ máy tính xách tay T., giải thích như vậy.

Đằng sau con số xuất khẩu 8 tỉ đô la của khu vực FDI


Theo Tổng cục Thống kê, tính chung quí 1-2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 14 tỉ đô la Mỹ, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt hơn 8 tỉ đô la Mỹ, tăng 29,3%, nhập khẩu khoảng 7,1 tỉ đô la Mỹ. Vậy khu vực FDI đang xuất siêu. Phải chăng đây là một thành tích?

Nhìn từ các con số

Trong bối cảnh kinh tế phục hồi sau suy giảm, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là xuất nhập khẩu. Quí 1-2010, kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt gần 6,7 tỉ đô la Mỹ, tăng 40%, nhập khẩu tăng 53% so với cùng kỳ năm trước. Nhập tăng nhanh hơn xuất cho thấy, các doanh nghiệp FDI đang hoạt động vẫn lo làm ăn và xuất khẩu lâu dài ở Việt Nam. Đây là tín hiệu tốt vì năm ngoái cả xuất, nhập khẩu đều giảm so với năm 2008. Nhưng nếu không tính xuất khẩu dầu thô thì các doanh nghiệp FDI vẫn nhập siêu hơn 400 triệu đô la Mỹ trong quí 1-2010.

Tình hình này cũng đã xảy ra vào năm 2009. Xuất khẩu không kể dầu thô là 23,64 tỉ đô la và nhập khẩu 24,87 tỉ đô la, tức là nhập siêu hơn 1,2 tỉ đô la. Còn năm 2008, tình hình cũng tương tự, và con số nhập siêu là hơn 4 tỉ đô la (không kể dầu thô).

Mức nhập siêu có vẻ được giảm bớt, nhưng thực ra là do sản xuất FDI bị đình trệ, giảm dần cả xuất và nhập trong hai năm 2008/2009. Nên nay có chút ít khôi phục trong quí 1 là đáng mừng. Cần duy trì đà khôi phục này và tạo thế tăng trưởng hơn nữa của các doanh nghiệp FDI, cho tương xứng với việc thực hiện FDI ngày càng lớn.

Nếu tính cả xuất khẩu dầu thô thì khu vực FDI xuất siêu đến gần 1 tỉ đô la Mỹ. Tuy nhiên, xuất siêu nhờ xuất khẩu dầu thô đến gần 1,4 tỉ đô la Mỹ, tức là dựa vào khai thác xuất khẩu tài nguyên thô, một hướng không thể phát triển mãi và cũng không nên khuyến khích.

Hơn nữa, nếu nhìn lại hai năm 2008 và 2009, con số xuất siêu cả năm của khu vực FDI cũng gấp 5-6 lần con số của quí 1-2010. Vậy thì, con số xuất siêu của quí 1 cũng không có gì bất thường.

Đi vào bản chất

Về cơ bản, sản phẩm của khu vực FDI thường được chia làm ba loại. Thứ nhất là sản phẩm trung gian. Thứ hai là sản phẩm cuối cùng nhưng được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài theo đơn đặt hàng của công ty mẹ. Thứ ba là các sản phẩm được tiêu thụ trong nước.

Với loại sản phẩm thứ nhất, các doanh nghiệp FDI thực chất là một công xưởng với nguyên vật liệu chính được nhập khẩu, toàn bộ giá trị của sản phẩm được đưa ra nước ngoài (xuất khẩu) để đi qua các công đoạn tiếp theo, từ đó mới hình thành giá bán. Như vậy, về thực chất toàn bộ hoạt động của loại doanh nghiệp này hầu như không hạch toán lợi nhuận. Phía Việt Nam không những không thu được đồng thuế giá trị gia tăng nào mà ngược lại các doanh nghiệp FDI được hoàn thuế; thuế thu nhập doanh nghiệp cũng coi như không có (vì không có lợi nhuận)(2) .

Với loại sản phẩm thứ hai, doanh nghiệp FDI tuy có chút lãi (không đáng kể) nhưng đó là một quy trình gần như khép kín. Về hạch toán lợi nhuận phía Việt Nam không được phép biết hoặc tham gia gì (vì vốn của chủ doanh nghiệp nước ngoài), như vậy việc xuất khẩu được bao nhiêu cũng chẳng liên quan gì đến mình.

Với loại sản phẩm thứ ba, tuy được tiêu thụ trong nước, nhưng hầu hết các nguyên vật liệu chính đều được nhập khẩu từ bên ngoài.

Chẳng hạn như bột ngọt (gần như 100% nguyên vật liệu là nhập khẩu), da cứng là 83%; giày thể thao là 76%; sứ vệ sinh là 74%; sơn hóa học 68,3%; bột giặt 56%...

Do quá trình hạch toán lợi nhuận khép kín của các doanh nghiệp FDI, nên dù là tiêu thụ trong nước cũng được xem thực chất là nhập khẩu.

Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI thường “gửi giá” vào vật tư, máy móc nhập khẩu, làm tăng chi phí trung gian dẫn đến lỗ. Việc này làm ảnh hưởng đến nguồn ngoại tệ trong nước.

Vậy Việt Nam kỳ vọng và được gì từ khu vực FDI?

Có thể đã có không ít các doanh nghiệp FDI đã tận dụng yếu tố lao động rẻ trong các ngành công nghiệp gia công với công nghệ không cao, thậm chí với máy móc không phải thật hiện đại, để làm hàng xuất khẩu. Các doanh nghiệp này không chỉ thu lãi trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà còn làm cho các công ty ở chính quốc lãi thêm khi tính cao giá công thiết kế, bản quyền, hậu cần hay tư vấn...

Cuối cùng, lợi nhuận thực đã “chảy” ra nước ngoài, tức cũng làm cho GDP thực phần nào bị “che khuất” và hơn thế nữa là làm cho GNI giảm bớt khi các doanh nghiệp FDI kê giá nguyên liệu phụ tùng nhập khẩu cao hơn (một hình thức chuyển giá). Do đó, có đến 50% doanh nghiệp FDI thông báo lỗ. Tình trạng này còn nghiêm trọng hơn ở TPHCM.

Ngoài ra qua một số khảo sát của Viện Kinh tế Việt Nam cho thấy một số doanh nghiệp FDI như “một góc trời riêng”, toàn bộ các vấn đề về kỹ thuật, công nghệ và khâu hạch toán người Việt nam không được biết và hầu như “không liên quan gì”. Như vậy việc tăng trưởng của các doanh nghiệp loại này (khá nhiều) thường không có sự lan tỏa, kích thích gì đến nền kinh tế trong nước.

Về lao động, khu vực này cũng chẳng thu hút được là bao. Hình 1 thể hiện lao động của khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân và khu vực FDI qua các năm.

Về hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng

Về hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng: Theo nghiên cứu (3) cho thấy trong 10 năm (1999-2009), ICOR của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là: 7,76; 3,54; và 7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6. Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu quả của họ là thấp nhất.Còn về khía cạnh chuyển giao công nghệ, giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6.

Theo nghiên cứu này, hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất cho thấy mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6). Nghiên cứu cho rằng: “Như thế nghĩa là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng chủ yếu nhờ vào các yếu tố khác, ví dụ lao động rẻ, chứ không phải do công nghệ. Trên thực tế, khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết”.

____________________________________

(1) Tác giả xin cảm ơn GS. Nguyễn Quang Thái, anh Nguyễn Văn Huân, anh Nguyễn Thế Hưng và anh Vũ Ngọc Anh đã góp ý cho bài viết này.

(2) Theo Cục Thuế TPHCM, hiện chỉ mới hơn 1.300 doanh nghiệp trong tổng số 2.730 doanh nghiệp FDI tại thành phố báo cáo tình hình tài chính trong 10 năm 1998-2008 về cục. Kết quả sơ bộ cho thấy, chỉ có 32% doanh nghiệp báo cáo có lãi, 68% còn lại báo cáo thua lỗ. Đặc biệt, có đến 90% doanh nghiệp dệt may báo cáo thua lỗ liên tục trong nhiều năm, nhưng vẫn không ngừng mở rộng quy mô hoạt động (trong khi đó đa số doanh nghiệp dệt may vốn đầu tư trong nước đều báo cáo có lãi).

(3) Nghiên cứu của GS. Nguyễn Quang Thái và Bùi Trinh, báo Pháp luật TPHCM đưa một phần http://phapluattp.vn/20100303115828110p0c1013/canh-bao-hieu-qua-cua-fdi.htm

Thay đổi cơ cấu để đẩy mạnh xuất khẩu hoa quả



Thu hoạch thanh long chính vụ. (Ảnh: Nguyễn Thanh/TTXVN)

Theo Vụ Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), mặc dù các nhà xuất khẩu rau quả Việt Nam mở rộng tìm kiếm nghiên cứu thị trường xuất khẩu và đã có mặt tại 50 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng vẫn chưa phát huy được hết thế mạnh của mình tại thị trường quốc tế.

Để gia tăng giá trị xuất khẩu, các chuyên gia thương mại cho rằng cần ưu tiên cơ cấu rau quả xuất khẩu theo thứ tự tươi - chế biến đông lạnh - chế biến đóng hộp - chế biến nước ép và sấy khô.

Phát triển xuất khẩu phải đi đôi với phát triển thị trường nội địa bởi hiện nay thị trường nội địa là chỗ dựa cho thị trường xuất khẩu khi gặp khó khăn.

Bên cạnh đó cần tiếp tục hình thành nên vùng nguyên liệu tập trung sản xuất lớn đủ sức cung ứng ổn định cho doanh nghiệp cũng như có chính sách bảo hiểm đầu tư trong nông nghiệp, bảo hiểm hợp đồng tiêu thụ dài hạn đặc biệt đối với các loại cây xuất khẩu vốn có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, tạo an tâm và giảm rủi ro cho các doanh nghiệp khi đầu tư, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định lâu dài.

Ngoài ra cần có chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến rau quả; khuyến khích, hỗ trợ hình thành nhiều hợp tác xã, nhiều cơ sở xuất khẩu theo vùng trên cơ sở liên kết quyền lợi chặt chẽ giữa những người trồng rau quả; tạo chủ động liên kết giữa các viện, trường, trung tâm với các nhà xuất khẩu, nhà vườn… nhằm ứng dụng các nghiên cứu có tính thực tiễn cao.

Thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong sáu năm (2004-2009) đạt 1,82 tỷ USD, tăng trưởng bình quân đạt 20%/năm, riêng năm 2009 vừa qua là 439 triệu USD và ba tháng đầu năm 2010 có phần tăng nhẹ so với cùng kỳ.

Đặc biệt, năm qua kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả sang thị trường EU đạt 49,6 triệu USD, tăng 9,4% so với năm 2008. Nhiều chủng loại rau quả đã được đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này như thanh long, xoài, hồng xiêm, dừa, nhãn, thảo quả, quả cóc, quả tắc, rau đay, măng, rau gia vị.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia thương mại, con số trên vẫn chiếm tỉ trọng rất nhỏ so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Trong quí 1 năm nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả chỉ tăng nhẹ và chủ yếu là do tăng giá trong khi khối lượng tăng ít. Ngoài ra, tỷ trọng xuất khẩu tươi cũng rất ít (chủ yếu là xuất khẩu thanh long, bưởi… sang các nước trong khu vực ASEAN) và chỉ chiếm 2,5% so với rau quả chế biến.

Theo dự báo, trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả sang thị trường EU sẽ tăng mạnh do nhu cầu tăng đối với các sản phẩm rau quả đặc trưng với hương vị mới lạ từ các nước nhiệt đới./

Đang đặt ra những thách thức lớn



Sau thời gian tạm lắng bởi Tết Nguyên đán Canh Dần, hoạt động thương mại, XNK tại khu vực cửa khẩu Móng Cái đã sôi động trở lại. Là một cửa khẩu quốc tế quan trọng trong việc trung chuyển hàng hoá giữa nước ta, các nước ASEAN với Trung Quốc, Móng Cái thường xuyên có khoảng 1.050 doanh nghiệp hoạt động XNK, trong đó lĩnh vực chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất và kinh doanh kho ngoại quan có 72 doanh nghiệp (42 doanh nghiệp trong tỉnh, 30 doanh nghiệp tỉnh ngoài).

Bên cạnh đó còn có 309 doanh nghiệp (4 DN có vốn nhà nước, 285 Công ty TNHH, 20 HTX) và trên 100 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh có chi nhánh hoạt động tại đây. Trong 2 tháng đầu năm 2010, hoạt động XNK hàng hóa qua khu vực này đạt giá trị kim ngạch 210 triệu USD, trong đó xuất khẩu đạt 48,7 triệu USD; nhập khẩu đạt 12 triệu USD; tạm nhập tái xuất, kho ngoại quan đạt 173,3 triệu USD. Các sản phẩm hàng hóa XNK chủ yếu là cao su, máy móc thiết bị phụ tùng ô tô, máy nông cụ; các sản phẩm hàng hóa tiêu dùng và sản phẩm nông, thuỷ hải sản…



Xe container chở hàng hoá tập kết tại điểm
thông quan Lục Lầm đang chờ xuất hàng.

Theo đánh giá của cơ quan chức năng TP Móng Cái, hoạt động XNK qua khu vực trong 2 tháng qua thấp hơn so với cùng kỳ năm 2009 từ 3-5%. Điều này đi ngược lại với xu hướng khởi sắc của nền kinh tế trong nước và thế giới sau suy thoái.

Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ cả 2 yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, hoạt động XNK qua khu vực Móng Cái chịu những ảnh hưởng biến động khó lường của yếu tố cung - cầu và giá cả hàng hoá thị trường thế giới. Những chính sách biên mậu của Trung Quốc luôn thay đổi. Trong khi đó, số doanh nghiệp trong nước tham gia buôn bán biên mậu với các doanh nghiệp, tư thương của Trung Quốc chiếm số lượng lớn nên khi nước bạn có những thay đổi về chính sách, các doanh nghiệp này đều không thể chuyển ngay sang hình thức buôn bán chính ngạch do thiếu kinh nghiệm. Đặc biệt đối với mặt hàng cao su được coi là mặt hàng chủ lực xuất khẩu qua khu vực này lại thường xuyên chịu áp lực bởi các quy định về quản lý của Trung Quốc. Việc thanh toán tiền xuất khẩu cao su qua các ngân hàng cũng gặp khó khăn do chính quyền nước bạn thực hiện kiểm tra khắt khe. Do đó đã làm cho giá cao su và khối lượng giao dịch có lúc giảm mạnh.

Về chủ quan, đó là những điều kiện kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động thương mại - XNK ở Móng Cái còn nhiều bất cập. Cửa khẩu Móng Cái đã xuống cấp. Bãi kiểm tra hàng hoá thường xuyên bị quá tải. Đặc biệt thời gian gần đây, tình trạng nhiều thuyền, đò chở hàng hoá bị ách tắc trên sông Ka Long do thủy triều thất thường, năng lực của các bến hạn chế. Thêm vào đó là việc vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ ra Móng Cái gặp trở ngại bởi quá trình thi công nâng cấp QL18A đoạn Mông Dương - Móng Cái đang dang dở.

* Hoạt động giao dịch xuất nhập khẩu mặt hàng cao su thiên nhiên tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái - Đông Hưng đã sôi động trở lại từ tuần đầu tháng 3-2010. Phía đối tác Trung Quốc có khoảng hơn 20 doanh nghiệp và thương nhân tham gia nhập khẩu cao su của Việt Nam. Từ đầu tháng 3 đến nay, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã đảm bảo lượng cao su đưa vào giao dịch ổn định ở mức 700-800 tấn/ngày. Tuy nhiên, nguồn cung cho xuất khẩu hiện nay đang có xu hướng giảm.

* Hiện nay, giá cao su xuất khẩu đã tăng thêm 1.000 NDT/tấn so với tuần đầu của tháng 3, đạt 21.600 NDT/tấn.

Ngoài ra, công tác quản lý của các cơ quan chức năng trên địa bàn chưa phân định trách nhiệm rõ ràng, hoạt động còn chồng chéo. Tình trạng này vừa ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thương mại - XNK, vừa tạo kẽ hở cho các đối tượng buôn lậu lợi dụng. Hoạt động quản lý bến cảng và các đò thuyền trên sông Ka Long cũng còn nhiều vấn đề quan tâm…

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Dương Văn Cơ, Phó Chủ tịch UBND TP Móng Cái khẳng định: Móng Cái đang đứng trước nhiều thách thức đặc biệt đối với hoạt động thương mại và XNK. Theo lộ trình, Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ hoàn thành việc xây dựng vào năm 2010. Khi đó, hoạt động thương mại phải theo thông lệ quốc tế và quy ước của khu mậu dịch tự do. Từ đó hàng hoá ở khu mậu dịch tự do sẽ được áp dụng mức thuế suất là 0%. Cùng với đó, việc Trung Quốc đang xây dựng hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapo cũng sẽ là thách thức lớn cho sự phát triển thương mại của Móng Cái sau năm 2010. Tuy nhiên, trong chiến lược phát triển mà trước mắt là năm 2010, thành phố quyết tâm phấn đấu hoàn thành mục tiêu đặt ra trong đó hoạt động thương mại - XNK đạt giá trị trên 1 tỷ USD. Đồng chí Dương Văn Cơ cũng thừa nhận rằng, để hoàn thành mục tiêu nêu trên sẽ rất khó nhất là trong bối cảnh hiện nay.

Như vậy, trước những khó khăn và thách thức mới đang được đặt ra, việc thúc đẩy hoạt động thương mại - XNK Móng Cái phát triển rất cần sự vào cuộc và phối hợp tích cực của các ngành chức năng và chính quyền địa phương trong việc nắm, dự báo tình hình và hỗ trợ, định hướng cho các doanh nghiệp. Cùng với đó, cần có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp, giúp họ chuyển từ buôn bán biên mậu sang xuất khẩu chính ngạch theo thông lệ quốc tế. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng cần thích ứng với những thay đổi trong xu hướng tiêu thụ cũng như những điều chỉnh mới của Trung Quốc trong các chính sách liên quan đến hoạt động biên mậu. Có như vậy, mới lường hết được khó khăn cho hoạt động thương mại - XNK qua địa bàn Móng Cái, tạo điều kiện tốt cho Móng Cái phát triển toàn diện.

Đường ứ đọng, giá rớt vì “nội công, ngoại kích” !



Ngành đường đang đứng trước cảnh rớt giá. Ảnh: HOÀI THANH

Trước diễn biến “quá sốc” của giá đường, mới đây Hiệp hội mía đường Việt Nam (VSCA) nhóm họp phiên toàn thể, tại TP.Hồ Chí Minh. Không khí chung của cuộc họp được ghi nhận là: Rối rắm!

* Đứng ngồi không yên...

Bà T., một nữ doanh nghiệp có thâm niên hơn 2 thập kỷ chuyên kinh doanh đường và là đối tác chiến lược của nhiều nhà máy đường Nam bộ cho biết, doanh nghiệp của bà vừa đưa về cảng Sài Gòn 3.000 tấn đường nhập khẩu với giá 750 USD/tấn (chưa tính thuế). Trao đổi với chúng tôi, bà T. giọng đượm nỗi niềm chua chát: “Cầm chắc là lỗ nặng rồi!”. Chẳng là, có chủ trương “nhập đường để điều chỉnh giá”, nhiều doanh nghiệp kinh doanh đường như bà T. đã tiến hành giao dịch, ký kết nhưng trớ trêu thay, tàu chở đường chưa cập cảng thì giá đã “tuột dốc”.

Cách đây gần tuần lễ, Tổng thư ký VSCA Hà Hữu Phái, cho biết: Từ mức giá cao kỷ lục trong 30 năm qua là 740 USD/tấn (thời điểm cách đây 2 tháng), giá đường thế giới hiện đã sụt giảm mạnh, chỉ còn 530 USD/tấn. Với giá này, sau khi cộng 5% thuế nhập khẩu trong hạn ngạch, 5% thuế giá trị gia tăng, chi phí vận chuyển và bảo hiểm thì giá đường nhập khẩu về Việt Nam chỉ khoảng 12.000-12.500 đ/kg. Lý thuyết là vậy, nhưng trên thực tế, xoay xở để nhập được đường về, như trường hợp bà T. lại không “ngọt như đường”.

Vài ngày trước cuộc họp của VSCA, Tổng Giám đốc Casuco (Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ) Nguyễn Thành Long - doanh nghiệp đứng đầu cả nước trong niên vụ 2008-2009 với 76.000 tấn đường lo lắng: Đường sản xuất tại ĐBSCL đang ứ đọng với số lượng lớn. Sản lượng đường của 10 nhà máy vùng ĐBSCL niên vụ 2009-2010 đạt khoảng 280.000-300.000 tấn. Ước tính sơ bộ, mười nhà máy trong vùng đang tồn kho khoảng bảy, tám chục ngàn tấn. Thông thường, sản xuất tới đâu, các nhà máy bán tới đó. Nên chỉ cần “chựng” lại 1 tháng không bán ra, hoặc bán ra chậm thì lượng đường tồn đọng sẽ là hàng ngàn, chục ngàn tấn, tùy theo từng nhà máy”. Vẫn theo ông Long, hiện Casuco đang bị ứ đọng khoảng 10.000 tấn đường, tương đương khoảng 140 tỉ đồng. Nhưng còn mía, còn trách nhiệm với người trồng mía nên 2 nhà máy của Casuco vẫn phải ép mía với giá nguyên liệu dưới 1.200 đ/kg mía cây. Giá này tuy có giảm so với lúc cao nhất 1.450 đ/kg, nhưng nông dân vẫn còn lãi, vì giá thành mía của nông dân chỉ khoảng 400-500 đ/kg, tùy từng vùng, từng hộ canh tác.

Tại cuộc họp VSCA ngày 26-3, nhiều nhà sản xuất, kinh doanh đường không giấu nổi sự lo âu. Bà Phạm Thị Thu Hương, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần mía đường Bourbon Tây Ninh, bức xúc: “Năm ngoái, khi bắt đầu vào vụ mới, chúng ta cũng họp thế này. Các doanh nghiệp đều cam kết không vào vụ sớm, nhưng ngay sau cuộc họp, có người quên mất lời cam kết của mình. Đề nghị Hiệp hội mía đường phải có biện pháp, chứ như thế này thì còn “loạn” nữa”. Còn bà Phạm Thị Sum, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần mía đường Biên Hòa (BHS) có 30 năm gắn bó với ngành đường cho rằng: “Nếu cứ nói một đằng, làm một nẻo, không ai nghe ai hết thế này thì chính chúng ta tự tiêu diệt lẫn nhau và làm cơ hội cho đường lậu, đường ngoại thao túng thị trường”. Bà Sum cảnh báo: Giá đường thế giới giảm mạnh (gần 300 USD/tấn) đã đẩy các doanh nghiệp đường trong nước vào thế “giẫm đạp” lên nhau. Nhiều nhà máy ở miền Đông, miền Trung thì tranh giành vùng nguyên liệu; ở ĐBSCL, trước khi vào vụ ép đã họp để cam kết đồng tiến, đồng thoái nhưng rốt cục, vài nhà máy “xé cam kết” ép mía chưa kịp chín, thiệt đơn, thiệt kép.

Trong bối cảnh trên, “nhà máy đường thứ 11” ở biên giới Tây Nam vẫn âm thầm lấn sân khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam lại ồ ạt bán tháo đường, bởi áp lực trả tiền mua mía nguyên liệu cho nông dân cũng khiến giá đường “tụt dốc không phanh”.

* Và bối rối, ngổn ngang

Hệ lụy đầu tiên và cũng là lý do muôn thuở là sự bất trị của “nhà máy đường thứ 11” nằm kề biên giới Tây Nam. Theo giám đốc một công ty mía đường lớn nhất vùng, mỗi ngày “nhà máy” này “sản xuất” cỡ từ 200-300 tấn đường xuất xứ từ Thái Lan, nếu “đẹp trời”, sản lượng lên tới 400-500 tấn/ngày. Nói là bất trị, bởi sau khi vượt biên trót lọt, “công nhân” của “nhà máy” này còn táo tợn đánh xe 10-12 tấn chở thẳng về các thị xã, thành phố ở sâu trong nội địa ĐBSCL; trong đó có trung tâm TP.Cần Thơ. Trong khi đó, các tỉnh có biên giới như Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An... đều có lực lượng chức năng thường xuyên túc trực khắp chiều dài biên giới hơn 100 km, nhưng xem ra việc ngăn chặn đường nhập lậu vẫn là “cuộc chiến” không cân sức.

Nhưng trước khi trách người, hãy tự xem lại mình. Khoan nói về những hạn chế trong khâu nguyên liệu, mà nhìn vào khiếm khuyết “chết người” ngành đường Việt Nam đó là: Không có hệ thống phân phối, tiêu thụ sản phẩm. “Thông thường, đường sản xuất tới đâu, bán tới đó. Phải bán buôn qua công ty chuyên doanh đường, các đại lý cấp I. Thiếu kho chứa và không thể nào “với” tới hệ thống bán lẻ, đừng nói chi đến người tiêu dùng thực thụ”, một doanh nghiệp có sản lượng đường 50.000-70.000 tấn, cho biết.

Trước vấn nạn hiện nay của ngành đường, ông Nguyễn Thành Long, Tổng Giám đốc Casuco đề xuất 3 biện pháp nhằm cải thiện tình hình. Đó là: Nhà nước cần quản lý chặt đường nhập lậu; có khung thuế suất đường nhập khẩu hợp lý và kịp thời, nhất thiết phải cân đối sao cho bảo vệ đường sản xuất trong nước; quan tâm đến nguồn tín dụng đối với doanh nghiệp, nông dân vay trồng mía.

Điều này được Tổng thư ký VSCA Hà Hữu Phái xác tín rằng: Chưa có bất kỳ nhà máy đường nào tự xây dựng được hệ thống đại lý tiêu thụ riêng, và càng không thể đưa được sản phẩm đến tận các cửa hàng bán lẻ. Từ lâu, đã hình thành một hệ thống đại lý chuyên bao thầu đầu ra cho tất cả mọi nhà máy đường, đồng thời, thâu tóm toàn bộ hệ thống tiêu thụ đường trong nước. Vì vậy, các nhà máy đường buộc phải tuân thủ những quy định do hệ thống đại lý đưa ra, chỉ được bán hàng cho các đại lý này và không được phép bán cho bất kỳ nhà bán lẻ nào. Nếu nhà máy nào vi phạm sẽ bị tẩy chay và sẽ không thể tiêu thụ được sản phẩm do mình làm ra.

Đó là chưa nói tới hoạt động mua bán đường trên thế giới qua 2 sàn giao dịch (London và NewYork) lại là “con dao nhiều lưỡi” và đó đích thực là “trận đồ bát quái” vì phần “ăn” thì khó mà phần “thua” chỉ là một cái gật hay lắc đầu. Trường hợp của bà T. này là một ví dụ. Tuy nhiên, cũng có thể nói, “ác mộng tháng Ba” này đã có dấu hiệu ít nhất là ngay từ đầu tháng 1-2010, nếu không muốn nói là từ tháng 10-2009. Có lẽ vì thị trường thế giới quá rộng, các doanh nghiệp kinh doanh đường của ta đôi khi mất cảnh giác và không loại trừ khả năng “bị nhiễu” bởi các dự báo tầm rộng.

Diễn biến giá đường đã từng được Vinanet. Info TV và Agro Data liên tục cập nhật trong nửa đầu tháng 1-2010 với các thông tin phản ánh diễn biến từ tháng 8-2009. Nếu bám sát các động thái này, chắc doanh nghiệp không “ôm hận” khi chạy theo việc “nhập đường điều chỉnh giá trong nước”. Mặt khác, công tác dự báo sản lượng đường trong nước và nhu cầu sử dụng mà “bỏ quên” đường nhập lậu, hay “nhà máy đường thứ 11” ở vùng ven biên Campuchia như cách nói của một số lãnh đạo doanh nghiệp đường ĐBSCL - thì thật tai hại. Nhẩm tính số lượng đường nhập lậu với cùng thời gian các nhà máy vận hành ép mía (180-200 ngày), thì số lượng nhập lậu cũng cỡ 80.000-90.000 tấn (phần có thể thấy được) rõ ràng là nó “qua mặt” khá xa so với sản lượng 50.000 tấn đường sản xuất thủ công.

Lời giải “bài toán” mía - đường là các phương trình phức hợp đa ẩn số, thế nhưng cũng có người cho rằng “chìa khóa nằm trong tay nông dân”. Chúng tôi xin can, hãy thương cho nông dân ít học, chân lấm tay bùn và cả các doanh nghiệp cũng chẳng khá hơn. Chỉ với ba đại lượng “hệ thống tiêu thụ”, “môi giới sàn giao dịch” và “đường lậu” cũng đủ cho mọi sự đảo điên rồi. Xin hãy cho chính sách và cách điều hành vĩ mô, tổng thể...