May mà giá đường chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong việc hình thành nên chỉ số CPI của VN. Trường hợp giá đường chiếm tỷ lệ quan trọng, thì chắc chỉ số CPI của ta năm 2009 đã phải tăng theo cấp số... nhân. Đơn cử, thời điểm tháng 1/2009, giá đường tinh luyện bán buôn dao động trong khoảng 7.500 - 7.700 VND/kg, thì tới tháng 8/2009, giá đường đã tăng gấp đôi, lên khoảng 13.000 - 14.000 VND/kg. Thời gian giáp Tết Canh Dần, giá đường bán giao thậm chí vọt lên gần 17.000 VND/kg. Còn tại thị trường bán lẻ, chỉ trong vòng 1 năm giá đường đã tăng gần gấp đôi (từ 12.000-13.000VND/kg lên 21.000-22.000 VND/kg). Tương tự những ngành sản xuất khác như thép, gạo, cà phê, điều..., ngành mía đường cũng đã hình thành mô hình hiệp hội ngành nghề của riêng mình. Nhưng không vì có hiệp hội này mà giá đường trong nước nói riêng, các DN sản xuất, kinh doanh đường và người sử dụng trong nước nói chung được yên ổn. Hội nghị toàn thể của hiệp hội mía đường tổ chức gần đây đã phơi bày thực tế phũ phàng. Các DN ngành mía đường đua nhau hạ giá để tự cứu mình, mà không thể “nhìn” tới các DN khác. Cần nói rõ, là theo ước tính của Bộ Công Thương, sản lượng đường cả nước niên vụ 2009-2010 đạt xấp xỉ 1 triệu tấn, thiếu khoảng 300 nghìn tấn so với nhu cầu tiêu dùng của cả nước. Và do vậy, các cơ quan chức năng đã cấp hạn ngạch nhập khẩu 150.000 tấn đường. Hạn ngạch nhập khẩu này khó có thể trở thành yếu tố có tính chất quyết định ép giá đường sản xuất trong nước giảm, ngay cả khi giá đường thế giới giảm. Cũng có nghĩa là giá đường trong nước giảm do những yếu tố nội tại của ngành mía đường. Yếu tố nội tại ấy, trước tiên nằm ở vấn đề nguyên liệu. Chênh lệch về giá nguyên liệu mía đường khu vực phía Bắc (trên dưới 700.000 VND/tấn) với phía Nam (có thời điểm lên tới trên 1,5 triệu VND/tấn) làm giá đường thành phẩm giữa hai khu vực này chênh lệch lớn. Đó là nguyên nhân khiến các DN phía Nam phải giảm giá đường, thậm chí giảm dưới giá thành sản xuất. Thứ hai, từ lâu nay vẫn tồn tại nghi vấn, là đường trong nước đang bị “làm giá”. Có thể thị trường đường trong nước đang bị các nhà đầu cơ đẩy giá xuống thấp để tìm cách tích trữ, rồi lại tạo ra khan hiếm nhằm đẩy giá lên. Còn theo khảo sát của cơ quan chức năng, ở đây là Bộ NN-PTNT, thì giá thành sản xuất đường niên vụ 2008 - 2009 vào khoảng 7.500 VND/kg, trong năm 2009 cũng không quá giá 8.500 VND/kg. Nhưng thời điểm đầu năm 2009, các nhà máy đường đã đồng loạt tăng giá bán đường từ 8.500 VND/kg lên mức xấp xỉ 11.000 VND/kg. Còn thời điểm hiện tại, khi giá đường đã giảm sâu, thì giá đường bán lẻ vẫn giảm không đáng kể. Có nghĩa là, các DN thương mại kinh doanh đường đang được xem như “thủ phạm” khiến giá đường không được bình ổn. Thực ra thì, đổ lỗi cho các DN kinh doanh thương mại là không công bằng. Từ nhiều năm nay, nếu không có các DN này, thì các DN sản xuất khó có “cửa” để tồn tại. Vì đây mới chính là kênh tiêu thụ và đảm bảo sản lượng sản xuất lớn nhất cho các nhà máy đường. Các DN làm thương mại cũng chính là những người phải “đánh bạc” nhiều nhất với giá đường. Khi giá giảm họ là người bị nhà sản xuất yêu cầu phải “ôm” thêm đường, khi giá tăng chưa chắc họ mua được đủ lượng cần. Đặc biệt khi giá thế giới giảm thì số lỗ vì giảm giá đa phần rơi vào họ. Như vậy, bên cạnh việc cần phải có lượng vốn khổng lồ để kinh doanh đường, thì nhà phân phối cần có thêm khoản dự trữ về tài chính để đảm bảo cho những rủi ro về giá đường. Giá đường bán lẻ tại thì trường trong nước chưa giảm là từ nguyên nhân này. Câu chuyện về giá đường trong nước, vì thế, có thể lý giải bằng nguyên nhân thiếu đối trọng cần thiết đối với hệ thống phân phối. Đối trọng ấy được gọi tên là Nhà nước, với các quy định, ưu đãi về vùng nguyên liệu, giá nguyên liệu, và trong nhiều trường hợp là cả quỹ dự trữ về tài chính để bình ổn giá đường.Chưa bao giờ đường được coi trọng như gạo, thực phẩm tươi sống, dầu ăn
* Chỉ tiêu phát triển của ngành đường trong năm 2010 là 1,5 triệu tấn. Trong khi nhu cầu tiêu thụ của VN mỗi năm tăng khoảng 4,5%, nên tổng nhu cầu tiêu thụ đường trong năm 2010 ước vào khoảng 1,51 triệu tấn. Qua đó, dự báo tình trạng cung không đủ cầu có thể tiếp diễn. Nếu tình hình sản xuất và thu mua mía của các nhà máy không được cải thiện, nguồn nguyên liệu mía không đáp ứng đủ cho các nhà máy thì vẫn có sự cạnh tranh khốc liệt ở đầu vào giữa các DN, cũng như khiến các nhà máy không ngừng đẩy giá thu mua mía lên cao.
Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2010
Giá đường: Quản lý hay thả nổi?
Nghịch lý giá đường
Giá đường thế giới giảm hơn 30%, trong nước chỉ giảm nhỏ giọt. Đường nhập lậu lại tràn về Gần cả tháng nay, giá đường thế giới liên tục giảm mạnh. Thế nhưng khác với diễn biến chung, giá đường trong nước lại chỉ giảm nhỏ giọt, thậm chí giá bán lẻ trên thị trường vẫn đứng ở mức trên dưới 20.000 đồng/kg, gần bằng mức giá cao nhất thời gian qua. Hè nhau kìm giá Đến thời điểm này, giá đường thế giới chỉ còn khoảng 484 USD/tấn. Nếu so với lúc cao điểm cách nay gần 2 tháng giá đường ở mức khoảng 753 USD/tấn thì giá hiện nay đã giảm hơn 30%. Theo tính toán của giới kinh doanh mặt hàng này, nếu tính đầy đủ các khoản chi phí, thuế... thì giá đường chưa tới 9.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá đường bán tại các chợ ở quận 5, quận 6 - TPHCM hiện nay vẫn từ 16.000 đồng - 18.000 đồng/kg, tùy loại. Giá bán tại các siêu thị cũng như nhiều chợ lẻ trên địa bàn TPHCM từ 19.000 đồng- 20.000 đồng/kg... Giải thích hiện tượng giá đường trong nước đang cách biệt quá lớn so với giá thế giới, các doanh nghiệp (DN) sản xuất đường cho biết khi giá đường thế giới giảm thì từ giữa tháng 3 đến nay, họ cũng đã điều chỉnh giảm dần. Giá bán buôn hiện nay chỉ còn 15.200 đồng/kg, riêng giá bán lẻ còn quá cao là do thị trường quyết định. Một số DN còn cho biết nguồn đường của họ hiện không còn nhiều, chủ yếu đường nằm trong khâu lưu thông, giá cả do giới kinh doanh điều tiết... Ngoài ra, do giá mua mía nguyên liệu cao, nay giá đường rơi xuống thấp đã đẩy họ đến bờ vực lỗ lã. Ông Nguyễn Thành Long, Tổng Giám đốc Công ty Mía đường Cần Thơ, nói: Giá mía nguyên liệu cuối vụ ở đồng bằng sông Cửu Long đang tăng quá cao, lên 1,3 triệu- 1,4 triệu đồng/tấn do có đến 10 nhà máy tranh giành nhau một vùng mía nguyên liệu. Nay giá đường giảm mạnh kể như lỗ nặng. Trong khi khu vực miền Trung, miền Bắc, giá mía nguyên liệu chỉ có 700.000 đồng- 800.000 đồng/tấn, nếu giá đường có giảm mạnh cũng không ảnh hưởng gì đến nhà sản xuất... Tuy nhiên, qua tìm hiểu của chúng tôi, giá đường trong nước cao là do đang có hiện tượng kìm giá. Theo giới buôn bán đường thì giá đường trong nước vừa qua bị đẩy lên cao là do có một số DN đang tìm cách liên kết thao túng thị trường. Tại cuộc họp của Hiệp hội Mía đường VN vừa tổ chức tại TPHCM cuối tháng 3 vừa qua, điều làm nhiều người ngạc nhiên là nhiều DN chỉ tập trung bàn cách làm thế nào để giữ giá đường không cho xuống tiếp. Còn các vấn đề như phát triển vùng nguyên liệu, phối hợp với nông dân trong việc trồng mía và thu mua mía sao cho cả DN và người trồng mía có lãi thì gần như không bàn đến. Thậm chí chủ tịch HĐQT một công ty mía đường khá lớn còn kêu gọi các nhà máy bạn không nên đưa đường ra thị trường khi giá cả xuống như hiện nay để giữ giá bởi: “Nếu càng đẩy hàng ra nhiều, giá sẽ tuột dốc nhanh hơn, nhất là vào thời điểm nhu cầu tiêu thụ đường thấp như hiện nay...”. Đường lậu tung hoành Việc giá đường trong nước vẫn đứng ở mức cao trong khi giá đường thế giới đã giảm rất mạnh đã tạo cơ hội cho đường nhập lậu từ Thái Lan tràn sang. Theo ước tính của Hiệp hội Mía đường VN, hiện có ngày tại khu vực biên giới các tỉnh miền Tây, đường lậu tràn sang với số lượng lên đến cả trăm tấn. Giới kinh doanh mặt hàng này cho biết giá bán buôn đường lậu Thái Lan hiện chỉ khoảng 13.500 đồng/kg, rẻ hơn đường trong nước trên 1.000 đồng/kg. Đường lậu trước khi xâm nhập vào VN được thương lái thay đổi bao bì thành hàng trong nước hoặc sử dụng lại bao bì nhập khẩu chính thức rồi tìm cách hợp thức hóa để tiêu thụ.Đường ngập chợ nhưng giá vẫn cao (ảnh chụp tại khu vực chợ Bình Tây, quận 6 - TPHCM) Ảnh: Hồng Thúy
Theo Hiệp hội Mía đường VN, tính đến hết tháng 3, các nhà máy đã sản xuất được 769.100 tấn đường, giảm 15.000 tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, hiện vẫn còn 20/40 nhà máy đường vẫn tiếp tục hoạt động cho đến tháng 5 với sản lượng hơn 174.000 tấn, đủ sức cung cấp cho thị trường từ nay đến mùa vụ mới (khoảng tháng 9).
Sức ép từ nhập siêu
GDP quý I/2010 tăng khả quan nhưng vẫn ở mức thấp. Chính phủ đã thấy rõ khó khăn trong duy trì ổn định cân đối vĩ mô và có những biện pháp bình ổn Tổng cục Thống kê vừa công bố tình hình kinh tế - xã hội quý I/2010. Chính phủ cũng vừa họp thường kỳ tháng 3 từ ngày 30-3 đến 1-4, công bố những số liệu quan trọng. Theo đó, tăng trưởng GDP quý I 5,83% được đánh giá là mức tăng trưởng tốt so với mức 3,14% của quý I/2009. Lạm phát dễ kéo dài Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3-2010 được công bố ngày 2-4-2010 viết: “Nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn: Tốc độ tăng GDP quý I/2010 tuy có cao hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh... Kinh tế vĩ mô có một số biểu hiện chưa ổn định và thiếu vững chắc: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý I tăng 4,12% là mức tăng khá cao; thị trường tài chính, thị trường tiền tệ phát triển chưa ổn định; điều hành lãi suất chưa phản ánh đúng quan hệ cung cầu thị trường; mức tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng thấp, chưa phù hợp; xuất khẩu vẫn còn nhiều khó khăn, nhập siêu lớn ảnh hưởng đến cán cân thanh toán tổng thể”. Như vậy, Chính phủ cũng nhận rõ sự gia tăng lạm phát và các bất cân đối vĩ mô, những căn bệnh kinh niên của nền kinh tế, là đáng lo ngại. Dưới đây chỉ xem xét hai ví dụ nổi cộm là lạm phát và nhập siêu. CPI tăng nhanh trong 2 tháng đầu năm, mức gia tăng của tháng 3 tuy đã giảm còn 0,75% vẫn là mức cao. Xem xét biến động CPI trong giai đoạn dài hơn sẽ cho chúng ta bức tranh rõ hơn (xem bảng 1, số liệu của Tổng cục Thống kê). Có thể thấy CPI hằng tháng đã tăng nhanh từ tháng 10-2009 đến nay. Tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế là một nguyên nhân chính của tăng CPI. Mức tăng tín dụng có thể được dùng như một chỉ báo của mức tăng lượng tiền trong nền kinh tế. Mối tương quan mạnh giữa biến động của tăng trưởng tín dụng với mức tăng CPI được tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh – chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, phát hiện với độ trễ từ 5-7 tháng (Xem: http://imf.org/external/np/seminars/eng/2010/lic/pdf/AnhV.pdf). Gói kích thích kinh tế bắt đầu từ đầu năm 2009 và tín dụng đã tăng nhanh (từ mức tăng khoảng 25% so với năm trước vào tháng 3-2009 lên gần 50% vào cuối năm) và tốc độ tăng tín dụng chỉ chậm lại khi gói bù lãi suất hết hiệu lực tháng 12-2009. Từ bảng 2, có thể thấy chỉ số CPI (so với cùng kỳ năm trước, yoy) đã giảm nhanh từ mức cực đại vào tháng 8-2008 do chính sách thắt chặt tài chính tiền tệ của Chính phủ và do tác động của khủng hoảng kinh tế, nhưng lại bắt đầu tăng từ tháng 9-2009. Nhiều người, trong đó có người viết bài này, lúc đó đã cảnh báo nguy cơ lạm phát tăng trở lại do tác động của gói kích thích kinh tế và sự phục hồi của nền kinh tế thế giới. Chính phủ cũng đã nhận ra nguy cơ đó cùng những bất ổn kinh tế vĩ mô khác đã kéo dài nhiều năm và đã đặt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và chống lạm phát lên hàng đầu. Tuy nhiên, số liệu trong bảng và ở hình trên cho thấy CPI đã liên tục tăng từ tháng 9-2009 và đã vượt con số 8% - 9%. Dựa vào mức tăng tín dụng và độ trễ 6-7 tháng, ở hình bên, có thể dự tính lạm phát sẽ còn tăng ít nhất cho đến tháng 6-2010, đó là chưa nói đến tác động tăng giá các mặt hàng trên thị trường thế giới. Hơn thế nữa, Chính phủ cho rằng “mức tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng thấp”, tức là mức này sẽ tăng tiếp và sẽ tác động đến CPI từ tháng 9-2010 trở đi. Như vậy, có khả năng lạm phát trong các tháng của quý II năm nay tiếp tục tăng nếu không có các biện pháp chống lạm phát quyết liệt. Hãm phanh nhập khẩu Về những bất cân đối kinh tế vĩ mô, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nổi cộm nhất là thâm hụt thương mại tăng cao trong quý I: Xuất khẩu đạt 14 tỉ USD, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6 tỉ USD, giảm 25%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 8 tỉ USD, tăng 28,6%. Nếu loại trừ tái xuất vàng của quý I/2009 và yếu tố tăng giá trên thị trường thế giới thì xuất khẩu hàng hóa quý I/2010 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nhập khẩu tăng rất nhanh, nhập khẩu hàng hóa quý I/2010 ước tính đạt 17,5 tỉ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 10,4 tỉ USD, tăng 28,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,1 tỉ USD, tăng 53,1%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch nhập khẩu quý I/2010 tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2009. Bất cân đối thương mại (nhập siêu) là căn bệnh trầm kha của nền kinh tế VN từ hàng chục năm nay, kéo theo sự căng thẳng về cán cân thanh toán, gây áp lực lên đồng tiền VN và khi giá cả quốc tế tăng lên sẽ kéo giá trong nước lên theo, gây lạm phát. Mức thâm hụt thương mại quý I bằng 25% kim ngạch xuất khẩu là rất đáng lo ngại. Những bất cân đối vĩ mô khác, đã kéo dài nhiều năm, cũng chưa hề được cải thiện. Chính phủ đã thấy rõ những khó khăn trong duy trì ổn định cân đối vĩ mô và có những biện pháp để giữ ổn định. Thời gian sẽ trả lời liệu các nỗ lực đó đạt kết quả đến đâu.
Sức mua tại thị trường trong nước vài tháng gần đây tăng khá góp phần làm tăng
GDP quý I/2010. Ảnh: TẤN THẠNH
Tạo thế và lực cho sản xuất cũng như xuất khẩu
Đóng bao gạo xuất khẩu tại Công ty lương thực Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Đình Huệ/TTXVN)
Tại Hội nghị giao ban trực tuyến công tác quý 1 của Bộ Công Thương, tổ chức ngày 5/4, những vấn đề nóng được bàn nhiều là thông tin về giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, tình hình nhập siêu lớn, doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng... làm ảnh hưởng đến lợi nhuận và tình hình sản xuất kinh doanh.
Tăng trưởng nhưng chưa ấn tượng
Hầu hết lãnh đạo các ngành, các tập đoàn, tổng công ty, sở công thương các tỉnh đều cho rằng sản xuất công nghiệp trong những tháng đầu năm nay có những chuyển biến tích cực so với thời kỳ suy giảm kinh tế. Đáng chú ý, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - chiếm khoảng 90% giá trị sản xuất toàn ngành - có mức tăng 14,1% (cùng kỳ năm trước chỉ tăng 1,8%), cho thấy sự phục hồi của sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào sự gia tăng của nhóm hàng này.
Tuy vậy, theo đánh giá của Bộ Công Thương, sản xuất công nghiệp tăng trưởng không đều ở các khu vực kinh tế. Đóng góp lớn vào sự tăng trưởng trở lại của sản xuất công nghiệp vẫn là khu vực ngoài quốc doanh có mức tăng 14,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,4%. Riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nằm trong chuỗi sản xuất của các công ty đa quốc gia có đơn hàng phụ thuộc phần lớn vào công ty mẹ nên nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng trước những tín hiệu tích cực của kinh tế trong và ngoài nước.
Trong điều kiện giá cả vật tư, nguyên liệu và các chi phí đầu vào đã và đang có chiều hướng tăng, các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về vốn sản xuất.
Kim ngạch nhập khẩu ba tháng đầu năm đã đạt đến con số trên 17,5 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng yếu tố tăng giá của các mặt hàng như xăng dầu, kim loại thường, sợi các loại, phôi thép đã làm cho kim ngạch nhập khẩu tăng hơn 1,3 tỷ USD. Cả bốn nhóm hàng cần nhập khẩu, kiểm soát và hạn chế đều gia tăng kim ngạch ở mức cao.
Bộ Công Thương cho rằng nếu không có biện pháp mạnh để hạn chế nhập khẩu ngay từ tháng tới, Việt Nam sẽ không đảm bảo tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu ở mức 20% như chỉ đạo của Chính phủ (hiện ba tháng tỷ lệ này là 25%).
Tạo thế và lực
Theo Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, chín tháng còn lại của năm nay, Bộ Công Thương yêu cầu các đơn vị trong ngành tiếp tục thúc đẩy sản xuất để đảm bảo cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và khối lượng hàng hóa cho xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh hoạt động cải tiến công nghệ, tăng cường quản lý, nghiên cứu sử dụng nguyên liệu và các máy móc thiết bị đã sản xuất được ở trong nước để giảm chi phí, hạ giá thành và tăng hiệu quả đầu tư kinh doanh, góp phần giảm nhập siêu.
Mặt khác, các doanh nghiệp cũng tăng cường đầu tư và giải ngân các dự án đầu tư nhằm có thêm năng lực sản xuất mới cho năm và các năm tiếp theo; riêng các dự án của ngành dệt may, da giày, nhựa khi hoàn thành sẽ tăng tự chủ sản phẩm nguyên phụ liệu trong nước, giảm nhập khẩu.
Về cân bằng cán cân thương mại, thời gian tới bộ sẽ xây dựng danh mục hàng hóa trong nước đã sản xuất được để các dự án đầu tư có thể sử dụng, góp phần giảm nhập siêu theo Nghị quyết của Chính phủ.
Bộ trưởng cho biết sắp tới Chính phủ cũng chỉ đạo các đơn vị sử dụng vốn ngân sách phải sử dụng hàng trong nước. "Làm cho cuộc vận động đi vào thực chất, nâng cao tính cạnh tranh hàng Việt," Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nói.
Về giá cả, Bộ trưởng cũng cho rằng doanh nghiệp Nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong việc đưa ra giá bán hợp lý với người tiêu dùng để tạo ra sự lan tỏa; đồng thời kiểm tra ngay một số cơ sở sản xuất và đại lý về giá thành, bán theo giá niêm yết để có hình thức xử lý ngay các trường hợp tăng giá bất hợp lý. Khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay vẫn là tiếp cận vốn tín dụng và lãi suất cho vay quá cao, Bộ Công Thương sẽ báo cáo Chính phủ để có sự chỉ đạo kịp thời cho các ngân hàng thương mại.
Một vấn đề cũng được đề cập nhiều tại hội nghị là đảm bảo điện cho sản xuất. Trong quý 1, ngành điện cố gắng đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và đời sống của nhân dân nhưng sang quý 2, tình hình sản xuất và cung ứng điện đang đứng trước nhiều khó khăn.
Vì vậy, bên cạnh việc tuyên truyền mạnh hơn về tiết kiệm điện, theo Bộ trưởng trong điều kiện không đáp ứng được 100% nhu cầu điện ngành điện phải có giải pháp trong việc phân phối điện, ưu tiên điện cho sản xuất, xuất khẩu, các cơ sở quan trọng như trường học, bệnh viện.
Tới đây, Bộ sẽ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông, thủy sản của một số ngành hàng có lượng hàng hóa lớn như gạo, thủy sản, càphê và một số nông sản khác nhằm duy trì phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân và ổn định giá hàng hóa.
Đồng thời, hai bộ sẽ xây dựng và cải tiến các phương pháp thu mua tồn trữ một số mặt hàng nông sản xuất khẩu như gạo, càphê, hạt điều, hạt tiêu để giữ giá, tránh thiệt hại cho người nông dân và doanh nghiệp./.
Làm ăn với láng giềng Campuchia: Bán hàng kèm tư vấn đầu tư
Campuchia là thị trường mở cho nhiều nhà cung cấp thiết bị xay xát lúa gạo từ Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc. Tuy vẫn là nước thiếu điện, nhưng là nơi có sản lượng lúa hàng hoá thặng dư cả triệu tấn/năm khiến Campuchia luôn là thị trường giàu tiềm năng khi nói về lúa gạo và xay xát. Ông Nguyễn Thể Hà, chuyên viên kinh tế công ty TNHH cơ khí công – nông nghiệp Bùi Văn Ngọ, tiên đoán, không bao lâu nữa thị trường Campuchia sẽ phát triển nếu họ có điện, có vốn, doanh nhân cảm nhận rằng họ đang bị cạnh tranh và nếu không thay đổi họ sẽ khó tồn tại được. Ưu thế người đi trước Trước năm 1975, những doanh nghiệp ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã nhắm tới thị trường này. Việc mua bán giữa thương nhân Sài Gòn – Chợ Lớn với Nam Vang (Phnom Penh) là quan hệ bình thường. Ông Bùi Phong Lưu, giám đốc công ty TNHH cơ khí công – nông nghiệp Bùi Văn Ngọ, một trong số hiếm hoi doanh nghiệp sản xuất thiết bị xay xát lúa gạo của Việt Nam tạo được lòng tin ở Campuchia, cho biết vào thời gian này gia đình ông... tuy không cung cấp những loại máy đồ sộ như bây giờ mà chỉ cung cấp béc máy ép dầu dừa, béc đốt lò gạch, lò chưng cất rượu, ghế cho rạp hát... nói chung là đồ cơ khí nhưng đã nghĩ tới một thị trường khác mênh mông hơn. Năm 1989, cơ sở sản xuất gia đình ông Lưu trở thành hợp tác xã chuyên gia công cơ khí theo đơn đặt hàng. Lúc đó, hợp tác xã do cha của ông (ông Bùi Văn Ngọ điều hành), đẩy mạnh chế tạo máy xay xát gạo, cối lức, gằng, cối xát trắng. Hàng hoá tự chảy theo “kênh đào” do thương nhân từ Nam Vang và Sài Gòn – Chợ Lớn khơi thông. “Những thiết bị do chúng tôi cung cấp trước đây, nhiều nhà máy vẫn còn xài”, ông Hà khẳng định. Năm 1995, công ty Bùi Văn Ngọ đặt đại lý tại Campuchia, nhưng công việc đầu tiên là huấn luyện tài cải (người lắp máy)... Ông Lưu nói: “Lúc đó, nhiều người ở Campuchia đặt hàng của mình ở Indonesia, Thái Lan – trong số 20 quốc gia có nhà phân phối, cuối cùng họ tìm đến Việt Nam. Chúng tôi nghĩ đã đến lúc lập một đại lý. Nhưng việc đầu tiên là làm cho họ hiểu cách chọn thiết bị vừa quy mô và phù hợp xu hướng. Từ đó đến nay, tuy chưa có so sánh chuyên sâu, nhưng phụ tùng, thiết bị vẫn bán đều đều, thị trường phát triển ổn định”. Doanh nhân Trung Quốc, Thái Lan cũng đưa hàng vào thị trường này. Nhưng một số chủ nhà máy vẫn xem việc nhập thiết bị từ Việt Nam là cách rút ngắn khoảng cách. Theo ông Lưu, do hạn chế về vốn liếng, thị trường, thiết bị, nhân lực, tập quán canh tác, cách quản lý nông hộ, chính sách... nên công nghệ của nhiều nhà máy ở Campuchia trễ hơn Việt Nam từ 10 – 15 năm. Chính sự am hiểu nhu cầu của người muốn làm nhà máy: chất lượng hàng của Việt Nam tốt hơn, ngang tầm hàng cùng loại từ các nước khác trên đất Campuchia, giá rẻ hơn, mua bán dễ hơn và lời tư vấn sát sườn khiến người Campuchia mua hàng của công ty Bùi Văn Ngọ. Giữ thị trường từ việc hiểu, chia sẻ với khách hàng Ông Hà nói: “Nhiều chủ nhà máy là người Hoa ở Battambang rất thích những loại máy có công suất 40 tấn/giờ như ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng phải khuyên họ hãy chờ đợi vì điện thế của Campuchia không đủ để vận hành. Họ làm nhà máy chà y như người Hoa ở Việt Nam, cách vận hành chành vựa cũng y hệt”. Theo ông Hà, sự tồn tại đủ loại thiết bị có thế hệ khác nhau, ví dụ họ xài côn, dây trân thì Việt Nam cũng sẵn sàng cung cấp và nếu họ muốn nhà máy lớn hơn, nhưng điện thế chưa tới 500KW thì có lời khuyên đừng làm. Có lẽ đó là lý do mà họ không rời bỏ nhà cung cấp Việt Nam. Sự tăng tốc trong hệ thống các nhà máy chế biến gạo của Việt Nam cũng giống như Thái Lan giai đoạn 2000. Nhiều nhà máy đã trang bị thiết bị xay xát có công suất 40 tấn/giờ trở lên. Hiện nay các thiết bị xay xát của Campuchia phổ biến 2 tấn/giờ. Tuy vậy, ông Lưu dự báo: “Campuchia sẽ mạnh lên, nhu cầu chế biến từ 6 – 8 triệu tấn lúa/năm đến sản lượng lúa gấp 3 lần/năm (18 – 20 triệu tấn lúa) cũng là điều bình thường vì Việt Nam tìm cách để phát triển, Campuchia cũng vậy”. Trong ba năm nay, Campuchia trở mình, mạnh lên, luật pháp đã thay đổi, bản thân họ đầu tư, cho phép đầu tư. Họ có những nhà đầu tư từ nước khác. Khi làm ăn, họ mạnh dạn chứ không chờ đợi. Các tổ chức quốc tế cũng tìm cách giúp Campuchia. “Vấn đề là vận dụng chính sách gì của xứ mình, nước bạn để cùng phát triển”, ông Lưu nói.
Nhiều mặt hàng thiết yếu có xu hướng giảm giá
Dự kiến giá gas sẽ giảm trong thời gian tới. Ảnh: Thái Hiền
Theo dự báo của Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính, trong quý II-2010, một số mặt hàng thiết yếu có xu hướng giảm giá.
Cụ thể, giá đường ổn định, thậm chí giảm nhẹ do lượng hàng tồn kho tại các nhà máy và đường nhập khẩu theo hạn ngạch hiện lên tới hơn 100.000 tấn, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng. Giá thực phẩm tươi sống như thịt, cá, rau củ, quả… sẽ giảm nhẹ do bắt đầu vào hè, thời tiết thuận lợi cho trồng trọt nên lượng cung thường tăng lên.
Giá gas dự kiến sẽ giảm khoảng 5.500 đồng/bình 12kg do giá thế giới có hướng giảm. Thuốc chữa bệnh, xăng dầu là hai mặt hàng dự kiến sẽ ổn định giá. Các mặt hàng lúa gạo, phân bón, thức ăn chăn nuôi dự kiến chỉ tăng nhẹ.
Tuy nhiên, giá sữa bột, thép xây dựng, xi măng vẫn có chiều hướng tăng. Cụ thể, giá xi măng có thể tăng nhẹ do chi phí đầu vào như điện, xăng dầu... tăng và nhu cầu tiêu thụ lên cao trong mùa xây dựng.
Thép xây dựng dự kiến tăng do áp lực tăng chi phí đầu vào, tuy nhiên sẽ sớm ổn định trở lại trong tháng 5 và tháng 6. Giá sữa bột tiếp tục đứng ở mức cao do chủ yếu phải nhập khẩu nên chịu áp lực tăng giá khi tỷ giá điều chỉnh tăng.
Trung Quốc thâm hụt thương mại lần đầu trong 6 năm
Cán cân thương mại của Trung Quốc đã đảo chiều trong tháng 3/2010. Đây là thâm hụt thương mại theo tháng đầu tiên của nước này trong vòng 6 năm qua, Tổng cục Hải quan Trung Quốc cho biết hôm 9/4.
Nhập khẩu của Trung Quốc đang tăng nhanh hơn xuất khẩu - Ảnh: Reuters.
Tân Hoa xã dẫn báo cáo của Tổng cục Hải quan Trung Quốc cho biết, thâm hụt thương mại tháng 3 của nước này là 7,24 tỷ USD.
Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc trong tháng báo cáo tăng 24,3% so với cùng kỳ năm 2009, lên 112,11 tỷ USD. Trong khi, nhập khẩu lại tăng tới 66%, lên 119,35 tỷ USD.
Tính chung cả 3 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn đạt thặng dư thương mại 14,49 tỷ USD. Tuy nhiên, nếu so với quý 1/2009, thặng dư thương mại của quốc gia này đã giảm mạnh tới 76,7%.
Thặng dư thương mại của Trung Quốc đã thu hẹp trong vài tháng qua do nhu cầu nội địa tăng mạnh khiến nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn xuất khẩu.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong quý 1/2010 là 617,85 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm 2009. Riêng tháng 3, xuất nhập khẩu của nước này là 231,46 tỷ USD, tăng 42,8%.
Trước đó, hôm 23/3, báo chí Trung Quốc dẫn lời Thủ tướng Ôn Gia Bảo cho hay, thâm hụt thương mại của nước này có thể sẽ hơn 8 tỷ USD.